Bản trường ca vững bền qua năm tháng

Bản trường ca vững bền qua năm tháng
2 giờ trướcBài gốc
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chào thân mật Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith. Ảnh: nhandan.vn
Tài sản vô giá từ lịch sử đến hiện tại
Giai đoạn 1945 - 1975 là chương sử bi tráng và hào hùng nhất, nơi khái niệm “Liên minh chiến đấu Việt - Lào” được hình thành và tôi luyện qua lửa đạn. Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào không chỉ là nghĩa vụ quốc tế, mà là sự gắn kết sinh tử theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định ra: “Giúp bạn là tự giúp mình”.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Việt Nam đóng vai trò là “bà đỡ” cho các lực lượng kháng chiến non trẻ của Lào. Việt Nam đã cử các đoàn cố vấn quân sự và “Quân tình nguyện” sang phối hợp cùng quân đội It-xa-la (Lào). Đáng chú ý là việc giúp thành lập Đội Latsavong (tiền thân của Quân đội Nhân dân Lào) vào năm 1949. Về chính trị, Việt Nam giúp đỡ các nhà lãnh đạo Lào thành lập Chính phủ kháng chiến Lào (1950) và Mặt trận Lào Tự do (Neo Lao Issara), tạo cơ sở pháp lý và vị thế quốc tế cho cách mạng Lào. Năm 1953 Liên quân Việt - Lào đã phối hợp tiến hành chiến dịch Thượng Lào giải phóng tỉnh Sầm Nưa, tạo dựng nên căn cứ địa vững chắc cho cơ quan đầu não của cách mạng Lào.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) sự giúp đỡ của Việt Nam đạt đến đỉnh cao về quy mô và sự hy sinh, tập trung vào ba trụ cột chính.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đón Thượng tướng Khamliang Outhakaysone, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bộ trưởng Quốc phòng Lào. Ảnh: nhandan.vn
Thứ nhất, xây dựng vùng giải phóng “kiểu mẫu”. Việt Nam không chỉ giúp Lào đánh giặc mà còn giúp xây dựng đời sống nhân dân tại các vùng giải phóng. Việt Nam cử hàng ngàn chuyên gia nông nghiệp, bác sĩ sang giúp Lào thâm canh lúa nước, xây dựng bệnh viện dã chiến và đào tạo cán bộ y tế cơ sở. Cùng với đó, đã có hàng vạn con em các dân tộc Lào đã được đưa sang Việt Nam học tập tại các “Trường nội trú Lào” để sau này trở thành cán bộ chủ chốt của đất nước.
Thứ hai, Tuyến đường huyền thoại Hồ Chí Minh đi qua đất Lào (đường Tây Trường Sơn) là biểu tượng vĩ đại của tình đoàn kết. Lào đã đồng ý cho Việt Nam mở đường trên lãnh thổ mình để tiếp tế cho miền Nam.
Thứ ba, Việt Nam đã cử hàng vạn quân tình nguyện sang Lào để phối hợp chiến đấu trong những chiến dịch then chốt. Chiến dịch Nặm Thà (1962) giải phóng một vùng rộng lớn ở Bắc Lào, buộc đối phương phải ký Hiệp định Genève về Lào. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - Ngụy, bảo vệ vững chắc hành lang chiến lược của hai nước. Chiến dịch Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng (tháng 12/1971 - 1/1972) đập tan âm mưu Lào hóa chiến tranh, mở rộng vùng giải phóng Bắc Lào, củng cố sườn phía tây của Việt Nam để chúng ta chuẩn bị cho chiến dịch mùa hè năm 1972.
Mối quan hệ kinh qua lửa đạn giành độc lập dân tộc của hai nước được ví như “môi hở răng lạnh”. Cố Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã từng có câu nói nổi tiếng để đời về sự giúp đỡ của Việt Nam: “Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần vô tư quốc tế, nhưng chưa có ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài, toàn diện đến thế”.
Sự hy sinh của Việt Nam dành cho Lào được thể hiện qua con số đau thương nhưng tự hào: Hàng chục ngàn chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã ngã xuống và nằm lại trên đất Lào để đổi lấy độc lập cho cả hai dân tộc. Mối quan hệ Việt - Lào được xây đắp bằng xương máu, mồ hôi và nước mắt của các thế hệ cách mạng tiền bối.
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên tới thăm Việt Nam ngay đầu năm 2026, sau khi cả hai nước vừa kiện toàn bộ máy lãnh đạo nhiệm kỳ mới, đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự ưu tiên hàng đầu mà hai bên dành cho nhau.
Những con số “biết nói” về sự gắn kết
Mối quan hệ Việt Nam - Lào không chỉ là quan hệ ngoại giao thông thường mà còn là “mối quan hệ đặc biệt, mẫu mực, hiếm có”. Việt Nam đã và đang hỗ trợ Lào toàn diện trên nhiều lĩnh vực then chốt nhằm giúp nước bạn ổn định kinh tế và phát triển bền vững. Năm 2025, quan hệ Việt - Lào đã chuyển mình mạnh mẽ sang hợp tác thực chất, hiệu quả với nhiều cột mốc ấn tượng.
Trong lĩnh vực thương mại bứt phá, năm 2025 ghi dấu bước ngoặt lịch sử khi kim ngạch thương mại song phương đạt mốc 2,98 tỷ USD, tăng trưởng ấn tượng 32,7% so với năm 2024. Đây là tiền đề vững chắc để hai nước hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD trong giai đoạn 2026 - 2030. Việt Nam xuất khẩu sang Lào các mặt hàng công nghiệp và tiêu dùng như sản phẩm hóa chất, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, vật liệu xây dựng clanhke và xi măng, các mặt hàng khác như thức ăn gia súc, xăng dầu, phương tiện vận tải, giấy, dây điện và cáp điện. Việt Nam nhập khẩu từ Lào các mặt hàng nguyên liệu và năng lượng như than đá, nhập khẩu điện từ các dự án điện gió lớn tại Lào, cao su và phân bón các loại, nông sản, rau quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, quặng và khoáng sản khác.
Trong lĩnh vực đầu tư chiến lược, Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Lào. Các dự án trọng điểm về năng lượng (thủy điện, điện gió), hạ tầng giao thông và nông nghiệp công nghệ cao đang trở thành những “ngọn hải đăng” cho sự hợp tác bền vững. Đường biên giới dài hơn 2.337km đã trở thành không gian kết nối kinh tế sôi động thông qua hệ thống cửa khẩu và các hành lang kinh tế Đông - Tây. Việc Việt Nam dành cho Lào quyền sử dụng và đầu tư khai thác các cầu cảng tại Cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh) là một quyết định mang tầm vóc chiến lược, không chỉ đơn thuần là hỗ trợ kinh tế mà còn là biểu tượng cao đẹp nhất của tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc, hiện thực hóa giấc mơ “có biển” của Lào. Thông qua cảng Vũng Áng, Lào từ một quốc gia “lục địa” (land-locked) trở thành một quốc gia “kết nối lục địa” (land-linked), có thể trực tiếp tiếp cận các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và thế giới mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào các cảng của Thái Lan hay các nước khác, rút ngắn quãng đường vận chuyển hàng hóa từ thủ đô Viêng Chăn ra biển khoảng 300 - 500km so với việc đi qua cảng Bangkok hay Laem Chabang (Thái Lan) giúp doanh nghiệp Lào tiết kiệm 20 - 30% chi phí vận tải và rút ngắn thời gian giao hàng từ 2 - 3 ngày, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng chủ lực của Lào như: kali, quặng sắt, cao su và nông sản.
Sự kiện này khẳng định “Lòng tin chiến lược” đặc biệt, sự tin cậy tuyệt đối giữa hai Đảng và hai Nhà nước, là minh chứng sống động nhất cho việc Việt Nam luôn dành những gì tốt đẹp nhất để hỗ trợ người anh em Lào phát triển bền vững.
“Mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”
Trong cuộc hội đàm diễn ra ngày 26/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Việt Nam luôn coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ đặc biệt với Lào, coi sự nghiệp xây dựng và phát triển của Lào cũng như của chính mình”.
Đáp lại tình cảm đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith khẳng định: “Thành công của Việt Nam là động lực mạnh mẽ cho Lào. Chúng tôi sẵn sàng cùng Việt Nam kề vai sát cánh trên con đường phát triển mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước”.
Sự đồng lòng này không chỉ thể hiện ở cấp cao mà còn thấm sâu vào đời sống nhân dân. Hình ảnh những thanh niên hai nước cùng múa lăm-vông, nhảy sạp tại Hà Nội trong lễ đón chính thức là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của tình hữu nghị được truyền tiếp cho thế hệ mai sau.
Dù thế giới có đổi thay, tình cảm Việt - Lào vẫn như dòng sông Mekong không bao giờ cạn, như dãy Trường Sơn vĩnh cửu cùng thời gian. Chuyến thăm của nhà lãnh đạo cao nhất đất nước Triệu Voi một lần nữa tô thắm thêm sắc đỏ của tình đồng chí, sắc xanh của niềm hy vọng vào một tương lai chung thịnh vượng và hạnh phúc.
Lê Nguyên Anh (tổng hợp)
Nguồn Thừa Thiên Huế : https://huengaynay.vn/the-gioi/ban-truong-ca-vung-ben-qua-nam-thang-162372.html