Quy mô dân số và “trần” tăng trưởng dài hạn
Ba phương án mức sinh được xây dựng cho giai đoạn 2024–2074 gồm: mức sinh thấp 1,45 con/phụ nữ; trung bình 1,85 con/phụ nữ; và cao 2,01 con/phụ nữ. Theo đó, đến năm 2074, dân số Việt Nam có thể đạt lần lượt 103,9 triệu người, 114,2 triệu người và 118,5 triệu người, tương ứng mức tăng 2,5%, 12,7% và 17,0% so với năm 2024.
Khoảng chênh gần 15 triệu người giữa kịch bản thấp và cao không chỉ là khác biệt về quy mô dân cư. Điều này còn phản ánh sự khác biệt về độ lớn của thị trường tiêu dùng nội địa, về nguồn cung lao động dài hạn và về khả năng duy trì nhịp độ tăng trưởng ổn định trong nửa thế kỷ tới.
Trong kịch bản mức sinh thấp 1,45 con/phụ nữ, dân số gần như đi ngang trong nửa thế kỷ tới. Điều này có thể giúp giảm áp lực trước mắt lên hạ tầng, tài nguyên và môi trường, nhưng lại làm suy yếu nền tảng nhân lực tương lai. Khi quy mô lao động thu hẹp dần, tăng trưởng kinh tế buộc phải dựa gần như hoàn toàn vào cải thiện năng suất. Nếu năng suất không tăng đủ nhanh để bù đắp sự sụt giảm về số lượng lao động, tăng trưởng tiềm năng sẽ giảm.
Ngược lại, việc duy trì mức sinh quanh ngưỡng thay thế giúp ổn định quy mô dân số, bảo đảm dòng bổ sung lực lượng lao động tương đối đều đặn và tạo nền tảng thuận lợi cho hoạch định chiến lược phát triển dài hạn. Đối với một nền kinh tế đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, quy mô dân số ổn định còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư và duy trì sức hấp dẫn của thị trường nội địa quanh 100 triệu dân trong dài hạn.
Theo phương án trung bình, dân số Việt Nam dự kiến đạt đỉnh vào khoảng năm 2059 trước khi chuyển sang giai đoạn tăng rất chậm hoặc ổn định. Mốc này đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn tăng trưởng dựa vào mở rộng dân số tự nhiên sang giai đoạn ổn định quy mô. Khi “động lực số lượng” dần suy giảm, nền kinh tế phải chuyển mạnh sang “động lực chất lượng” – tức là năng suất lao động, trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một lực lượng lao động ổn định về quy mô nhưng nâng cao về kỹ năng sẽ quyết định khả năng chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Sẵn sàng khi cơ cấu dân số vàng khép lại
Bên cạnh quy mô dân số, cơ cấu dân số là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng. Dự kiến năm 2036, thời kỳ cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sẽ khép lại. Trong giai đoạn này, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao gấp ít nhất hai lần số người phụ thuộc, tạo ra “cửa sổ cơ hội” cho tăng trưởng thông qua nguồn cung lao động dồi dào, tỷ lệ tiết kiệm cao và khả năng tích lũy vốn lớn hơn.
Việc kết thúc dân số vàng đồng nghĩa với sự gia tăng nhanh của nhóm dân số cao tuổi trong khi nhóm trẻ và trung niên thu hẹp tương đối. Áp lực phụ thuộc người già sẽ tăng lên, kéo theo gánh nặng tài chính đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và ngân sách nhà nước.
Đối với thị trường lao động, điều này có thể dẫn tới tình trạng thiếu hụt lao động trong một số ngành, đặc biệt là các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động trẻ. Chi phí lao động có xu hướng tăng, buộc doanh nghiệp phải đầu tư mạnh hơn vào tự động hóa, chuyển đổi số và đào tạo lại nguồn nhân lực.
Nếu không có sự cải thiện mạnh mẽ về năng suất, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế có thể chịu tác động tiêu cực khi lợi thế nhân khẩu học suy giảm. Điều này đặt ra yêu cầu phải tận dụng tối đa khoảng thời gian còn lại trước năm 2036 để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và cải thiện năng suất lao động.
Tuy nhiên, già hóa dân số cũng mở ra những không gian kinh tế mới. Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, y tế, bảo hiểm, thiết bị hỗ trợ, các sản phẩm tài chính dành cho nhóm hưu trí… sẽ tăng lên. Việc hình thành các ngành kinh tế gắn với “kinh tế bạc” có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới nếu được định hướng và hỗ trợ đúng cách.
Dự báo thời kỳ cơ cấu dân số vàng, phương án trung bình
Mức sinh thay thế và ổn định nền tảng nhân lực
Năm 2024, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam ở mức 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế khoảng 2,1 con/phụ nữ. Nếu xu hướng này duy trì trong thời gian dài, quy mô các thế hệ kế tiếp sẽ nhỏ hơn thế hệ trước, làm thu hẹp lực lượng lao động tương lai.
Trong kịch bản mức sinh 1,45 con/phụ nữ, dân số chỉ tăng 2,5% trong 50 năm và tốc độ già hóa sẽ diễn ra nhanh hơn. Khi số người trong độ tuổi lao động giảm trong khi số người cao tuổi tăng, tỷ lệ phụ thuộc gia tăng sẽ tạo áp lực lớn lên ngân sách và hệ thống an sinh xã hội.
Ngược lại, nếu duy trì mức sinh quanh 2,0 con/phụ nữ, quy mô dân số và lực lượng lao động sẽ ổn định hơn, giảm tốc độ già hóa và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tăng trưởng bền vững. Mức sinh thay thế vì vậy không phải mục tiêu gia tăng dân số bằng mọi giá, mà là điều kiện để duy trì sự cân bằng giữa các thế hệ và ổn định cấu trúc nhân lực dài hạn.
Trong bối cảnh đô thị hóa tiến gần ngưỡng 50% và di cư nội địa tiếp tục tái phân bổ lao động giữa các vùng, chính sách dân số ngày càng gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế. Những quyết định trong 10–15 năm tới sẽ định hình cấu trúc lao động, quy mô thị trường và tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam đến giữa thế kỷ XXI.
Trên cơ sở các xu hướng nhân khẩu học và các kịch bản dự báo, việc chủ động thích ứng với bối cảnh dân số mới, tập trung vào việc tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số và chủ động ứng phó với các hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh là những yếu tố then chốt góp phần bảo đảm phát triển bền vững nguồn nhân lực và củng cố nền tảng dân số cho tương lai.
Quyết định 291/QĐ-TTg và định hướng bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030
Ngày 13/2/2026, Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký ban hành Quyết định số 291/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”.
Chương trình đặt mục tiêu tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực và góp phần thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Cụ thể, phấn đấu đến năm 2030 tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh mỗi năm; trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn và sinh con; 100% tỉnh, thành phố thực hiện chính sách hỗ trợ sinh con và nuôi con.
Chương trình nhấn mạnh chuyển trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh mức sinh theo hướng đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Các giải pháp bao gồm tăng cường tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi; rà soát, sửa đổi các quy định không còn phù hợp; bổ sung chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con; khuyến khích phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi; mở rộng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và hỗ trợ sinh sản…
Quyết định 291/QĐ-TTg nêu, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.
Lê Đỗ