Ông Nguyễn Văn Đạt (Cà Mau), chủ doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản sang Trung Quốc cho biết, đơn vị của ông từng gặp tình trạng thủy hải sản, cụ thể là cá biển bảo quản lâu bị mất nước và sậm màu hơn khiến đối tác chê.
Mất màu là mất giá
Sau tìm hiểu, ông mới biết khâu bảo quản chưa đạt chuẩn về nhiệt độ đông lạnh dưới âm 18 độ. Ngoài ra, cũng cần áp dụng thêm các kỹ thuật như mạ băng, hút chân không để giải quyết vấn đề trên.
“Với thủy sản đông lạnh, chỉ cần sai lệch nhỏ trong chuỗi lạnh cũng đủ làm giảm màu sắc và độ tươi, từ đó kéo giá trị thương mại xuống đáng kể”, ông Nguyễn Văn Đạt nói.
Tại Bắc Ninh, chị Nguyễn Thị Minh Thùy, Giám đốc HTX Lục Ngạn Xanh cho biết vải thiều có bán giá tốt hay không phụ thuộc nhiều vào hình thức bên ngoài.
Chuỗi lạnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng nông sản.
Vỏ phải đỏ tươi, gai vỏ còn căng, cuống xanh. Nếu không thu hoạch và bảo quản đúng, quả vải sẽ thâm vỏ, mất nước, giảm độ giòn.
Nếu vải hàng loại 1 đạt tiêu chuẩn từ thu hoạch, bảo quản, giá xuất khẩu có thể dao động từ 4-7USD/kg sang thị trường Trung Quốc hoặc 8-12 USD/kg sang Nhật Bản, EU. Nhưng khi vận chuyển trên container mà nhiệt độ bị thay đổi, chắc chắn lô vải này không thể lên các kệ siêu thị nước ngoài.
Theo các chuyên gia logistics, nông sản xuất khẩu thường khó hỏng vì đường xa mà thường hỏng do nóng. Nghĩa là thời gian vận chuyển dài chưa chắc nguy hiểm, nhưng chỉ cần vài giờ nhiệt độ không kiểm soát tốt là chất lượng giảm rất nhanh.
Nhiều trái cây trong quá trình vận chuyển trong container bị chênh lệch nhiệt độ, nhất là nhiệt độ lên cao hơn một chút có thể xảy ra hiện tượng chín ép ngay trên tàu. Ngược lại, nếu nhiệt độ bị hạ xuống thấp quá so với tiêu chuẩn, nhiều nông sản sẽ bị bỏng lạnh và rơi vào tình trạng bị thâm đen.
Kiểm soát để loại rủi ro
Đặc biệt, nhiều người nghĩ càng lạnh thì càng giữ được hàng hóa lâu nhưng ông Rocky Thach Nguyen - CEO Smart Link Logistics, cho rằng mỗi loại trái cây có yêu cầu bảo quản khác nhau, không thể áp dụng chung một mức nhiệt.
Với quả chuối khi xuất khẩu, nếu để dưới 12 độ C sẽ xảy ra hiện tượng bị cháy do quá lạnh. Lúc này, vỏ chuối chuyển sang thâm đen, chuối không thể chín đều. Đó là lý do vì sao qua quá trình nghiên cứu và thực tiễn xuất khẩu, độ lạnh trong bảo quản vận chuyển đổi với loại quả này cần duy trì đều đặn ở mức 12-14 độ C.
Trong khi đó, sầu riêng tươi có đặc điểm sinh lý phức tạp với chu kỳ chín ngắn, khoảng 5-7 ngày, do đó yêu cầu thiết lập nhiệt độ chuyên biệt.
Để bảo quản sầu riêng tươi, container lạnh cần được cài đặt nhiệt độ từ 13-15°C, mức thông gió từ 15-20% để đảm bảo quả không bị bí khí. Nếu làm gián đoạn nhiệt độ chi trong 1-2 giờ, quả sẽ bị giảm chất lượng, dẫn đến việc bị ép giá hoặc từ chối nhận hàng.
Đối với sầu riêng đông lạnh khi xuất sang Trung Quốc (bao gồm nguyên quả, xay nhuyễn hoặc cơm sầu riêng) phải tuân thủ quy trình kiểm soát nhiệt độ cốt lõi theo các tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó, quá trình cấp đông nhanh, sản phẩm phải được đông lạnh ở nhiệt độ -35°C hoặc thấp hơn trong ít nhất 1 giờ.
Quá trình cấp đông phải đảm bảo nhiệt độ lõi đạt mức -18°C hoặc thấp hơn. Còn trong suốt quá trình bảo quản và vận chuyển, nhiệt độ lõi phải luôn được giữ ở mức từ -18°C trở xuống theo tiêu chuẩn CAC/RCP 8-1976.
Rõ ràng, việc bảo quản lạnh cần phụ thuộc vào từng sản phẩm, yêu cầu của từng thị trường. Đối với các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU…, các đối tác thường không đánh giá doanh nghiệp qua một lô hàng đẹp mà họ đánh giá bằng năng lực duy trì chất lượng ổn định trong thời gian dài.
Do đó, để giữ được chất lượng hàng hóa xuất khẩu ở nhiều chuyến hàng, việc kiểm soát nhiệt độ, thời gian vận chuyển hay cách bảo quản trong container cần được chú trọng.
Chỉ cần làm đúng từng khâu, đơn vị xuất khẩu sẽ từng bước loại bỏ được rủi ro. Bởi đối với các đơn vị xuất khẩu, khi nông sản-hàng hóa không được bảo quản lạnh tốt sẽ dẫn đến thiệt đơn, thiệt kép.
Bà Nguyễn Thị Thu Liên, Hiệp hội Thực phẩm Minh Bạch, cho biết đã có đơn vị xuất khẩu chuối bị trả hàng vì không đảm bảo được đúng tiêu chuẩn về nhiệt độ.
Điều đáng tiếc hơn là đơn vị vận chuyển sau khi thấy tình trạng này đã không có thiện chí phối hợp với đơn vị sản xuất xuất khẩu để tìm phương án hỗ trợ, đền bù phù hợp khiến tình trạng khủng hoảng về tài chính diễn ra.
Trong khi mỗi container 40ft chuối xuất khẩu, các chi phí làm thủ tục đã lên đến hàng trăm triệu đồng. Khi bị trả hàng, đơn vị xuất khẩu không chỉ mất trắng nguồn thu từ lô hàng đó mà còn phải chịu chi phí logistics “khứ hồi” hoặc chi phí tiêu hủy tại nước sở tại tính bằng đồng USD.
Chưa kể, đơn vị đó còn phải chịu thêm khoản phạt vì vi phạm hợp đồng từ phía đơn vị nhập khẩu. Những điều này khiến đơn vị nhập khẩu bị bào mòn về vấn đề tài chính và uy tín, từ đó mất lợi thế trong chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối.
Huyền Trang