Bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế: 'Chìa khóa' cho sự phát triển bền vững của cộng đồng

Bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế: 'Chìa khóa' cho sự phát triển bền vững của cộng đồng
7 giờ trướcBài gốc
Gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống sẽ khó bền vững, nếu chưa được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển và sinh kế tại chỗ cho cộng đồng. Ảnh: Duy Ngọc
Biến văn hóa thành tài sản
Việt Nam là quốc gia đa sắc tộc, có nền văn hóa lâu đời, hết sức phong phú, đa dạng. Trước đây, khi nói đến văn hóa dân tộc thiểu số, người ta thường nói đến việc bảo tồn, phục dựng và truyền dạy, ít đề cập đến việc làm sao để văn hóa thật sự “nuôi sống” cộng đồng. Nếu chủ thể văn hóa không có thu nhập, nghệ nhân không sống được bằng nghề, thì di sản chỉ tồn tại trong văn bản, lễ hội hoặc trên sân khấu. Chính vì lẽ đó, Nghị quyết số 162/2024/QH15 của Quốc hội ngày 27/11/2024 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 đặt ra yêu cầu bảo tồn, phát huy di sản gắn với phát triển công nghiệp văn hóa, hoàn thiện thiết chế văn hóa, hỗ trợ cộng đồng, nghệ nhân, người thực hành di sản, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Điều đó cho thấy, văn hóa không chỉ được nhìn như một lĩnh vực cần hỗ trợ, mà trở thành nguồn lực nội sinh của sự phát triển.
Thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, nơi nào cộng đồng được trao quyền, nơi đó văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế bền vững hơn. Một bản làng chỉ thật sự hấp dẫn khi có đời sống văn hóa sống động. Trong các mô hình đang vận hành hiệu quả, du lịch cộng đồng đang là hướng đi điển hình, minh chứng rõ nét cho khả năng biến hóa văn hóa thành tài sản, tạo sinh kế cho cộng đồng. Nhiều tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới như Lào Cai, Lạng Sơn, Nghệ An, An Giang..., mô hình du lịch cộng đồng đã được hình thành từ khá sớm. Ở đó, văn hóa được gắn liền với hoạt động kinh tế. Từ những nếp nhà sàn, nhà trình tường, những bữa cơm mang đậm hương vị núi rừng, du khách hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên. Cũng nhờ đó, sinh kế được mở ra cho đồng bào thông qua dịch vụ lưu trú, ăn uống, bán nông sản, làm hàng thủ công, tham gia dẫn tour, hỗ trợ dịch vụ...
Từ mô hình du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả tích cực ở nhiều địa phương đã minh chứng, văn hóa chỉ được bảo tồn bền vững, khi nó tiếp tục tạo ra giá trị trong đời sống hằng ngày của cộng đồng. Một điệu hát, một khung cửi, một phiên chợ, một nếp nhà sàn hay một nghề thủ công sẽ khó được bảo tồn, gìn giữ, nếu chỉ được tôn vinh vào dịp lễ hội. Nhưng khi chúng gắn với việc làm, thu nhập, thị trường và niềm tự hào cộng đồng, thì giá trị văn hóa không bị mai một, mà ngược lại, trở thành nguồn lực phát triển tự thân. Vì thế, ý nghĩa sâu xa nhất của Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam không chỉ nằm ở việc trình diễn những sắc màu văn hóa của 54 dân tộc anh em, mà điều quan trọng hơn là làm sao để chủ thể văn hóa được duy trì hoạt động hằng ngày bằng các giá trị truyền thống, để mỗi bản làng có thể kể câu chuyện riêng của mình bằng một mô hình sinh kế cụ thể.
Để văn hóa thật sự “nuôi sống” bản làng
Nếu du lịch cộng đồng “bán sự trải nghiệm”, thì làng nghề và nghề thủ công truyền thống “bán bản sắc dưới dạng sản phẩm”. Đây là một trong những con đường rõ nhất để văn hóa tạo ra sinh kế. Tại tỉnh Gia Lai, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Jrai đang được làm mới theo hướng gắn với du lịch cộng đồng. Người dân đã thành lập các tổ liên kết dệt thổ cẩm gắn với du lịch cộng đồng. Bà con không chỉ dệt vải truyền thống, mà còn làm túi, ví, khăn, quà lưu niệm phù hợp hơn với nhu cầu thị trường và du khách. Giá trị của mô hình này không chỉ nằm ở việc bán được sản phẩm, mà nghề dệt được gìn giữ một cách bền vững, tạo ra thu nhập thường xuyên cho người dân.
Một mô hình có quy mô rõ nét hơn là làng dệt thổ cẩm Khmer ở xã An Cư, tỉnh An Giang. Hiện nay, sản phẩm thổ cẩm ở đây không chỉ tiêu thụ trong nước, mà còn được xuất sang các nước như Lào, Thái Lan, Campuchia, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Đây là ví dụ khá điển hình cho một chuỗi sinh kế văn hóa được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, trong đó có hợp tác xã tổ chức sản xuất, nghệ nhân giữ được nghề, đào tạo được lớp kế cận, có đầu ra thị trường và quan trọng là có vai trò nổi bật của phụ nữ trong giữ nghề, truyền nghề, làm kinh tế... Ở một số địa phương khác, các làng nghề thủ công truyền thống cũng đang được phát triển mạnh mẽ, vừa góp phần giữ hồn cốt văn hóa dân tộc, vừa tạo ra giá trị kinh tế, tuy không lớn song đối với nhiều vùng nông thôn, miền núi, đó là nguồn thu nhập tại chỗ, có khả năng giữ lao động ở lại cộng đồng, để nghề truyền thống không bị mất.
Thực tế cho thấy, trong việc phát triển du lịch văn hóa dân tộc thiểu số, không ít địa phương hiện vẫn gặp tình trạng triển khai phân tán, sản phẩm nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chưa hình thành được những sản phẩm đặc trưng có sức cạnh tranh rõ rệt. Không ít nơi phát triển mô hình homestay theo trào lưu, nhưng chưa chú trọng đến bảo tồn văn hóa. Hệ quả là cơ sở vật chất có thể khang trang, nhưng nội dung văn hóa nghèo nàn, thiếu hấp dẫn; tiết mục dân gian bị sân khấu hóa; sản phẩm thủ công khó tiêu thụ; người dân tham gia nhưng hưởng lợi chưa tương xứng...
Anh Chảo Lý Ưng, dân tộc Dao ở tỉnh Lào Cai, người có nhiều năm gắn bó với du lịch văn hóa chia sẻ, muốn tạo sinh kế từ văn hóa thì không thể chỉ dừng ở bảo tồn mang tính hình thức. Nó phải đi cùng tổ chức sản xuất, đào tạo kỹ năng, kết nối thị trường, truyền thông, thương mại số và phân phối lợi ích công bằng. “Bảo tồn bền vững không chỉ là giữ lại di sản, mà là giúp di sản tiếp tục tạo ra giá trị trong đời sống cộng đồng” - anh Chảo Lý Ưng nhấn mạnh.
Trong dòng chảy phát triển hiện nay, bảo tồn văn hóa dân tộc không chỉ là gìn giữ những giá trị truyền thống đã được trao truyền qua nhiều thế hệ. Vấn đề đặt ra ngày càng rõ, đó là làm sao để chính những giá trị ấy tiếp tục sống trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực phát triển và góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng.
Duy Ngọc
Nguồn Biên Phòng : https://bienphong.com.vn/bao-ton-van-hoa-gan-voi-phat-trien-sinh-ke-chia-khoa-cho-su-phat-trien-ben-vung-cua-cong-dong-post502107.html