Bắt giữ Nguyễn Trọng Sim và Đào Minh Tiến

Bắt giữ Nguyễn Trọng Sim và Đào Minh Tiến
2 giờ trướcBài gốc
Theo Cổng TTĐT Công an tỉnh Lào Cai: Với tinh thần tích cực khẩn trương, chỉ sau chưa đầy một ngày từ khi tiếp nhận tin báo, Công an xã Quy Mông phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, Công an phường Âu Lâu, Công an phường Yên Bái đã bắt giữ thành công hai đối tượng trộm cắp tài sản của người dân.
Cả hai đối tượng đều có nhiều tiền án, tiền sự.Các đối tượng bị bắt giữ gồm: Nguyễn Trọng Sim (thường gọi là Tít), sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố Ngòi Đong, phường Âu Lâu, tỉnh Lào Cai và Đào Minh Tiến, sinh năm 1996, trú tại thôn Bu Thấp, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai.
Các đối tượng cùng vật chứng tại cơ quan Công an
Tại cơ quan Công an, các đối tượng khai nhận sáng ngày 22/11/2025, lợi dụng sự chủ quan, mất cảnh giác của người dân trong khi làm nương (để xe máy ở ven đường mà không có người trông coi) tại khu vực đường liên thôn, thôn Yên Thịnh, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai, các đối tượng đã thực hiện việc cắt, đấu dây, mở điện để trộm cắp 01 xe máy. Sau đó, các đối tượng mang đến cất giấu tại một địa điểm thuộc phường Yên Bái thì bị phát hiện và bắt giữ.
Trước khi bị bắt, đối tượng Nguyễn Trọng Sim đã có 2 tiền án về tội trộm cắp tài sản, 01 tiền sự áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng. Đối tượng Đào Minh Tiến đãcó 1 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 25/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với các đối tượng để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
1. Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự
1.1. Cấu thành tội phạm tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự
* Chủ thể:
- Theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu các khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng của tội trộm cắp tài sản. (Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017)
* Khách thể:
Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.
* Mặt khách quan
- Về mặt hành vi: Hành vi phạm tội này có mang tính chất chiếm đoạt tài sản nhưng sự chiếm đoạt ở đây được thực hiện bằng hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của cá nhân, tổ chức quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như chen lấn, xô đẩy,...nhằm tiếp cận cá nhân, tổ chức để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Về mặt hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản là gây ra thiệt hại về giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp. Tài sản bị trộm cắp có thể là các loại tiền, hàng hóa, giấy tờ có giấy trị thanh toán (ngân phiếu, công trái,...)
Lưu ý: Chỉ những giá trị tài sản bị trộm cắp từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm tội trộm cắp tài sản; còn nếu tài sản trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các điều kiện khác.
* Mặt chủ quan
- Đây là lỗi cố ý, tức người phạm tội nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản nhất định hoặc có thể gây ra thiệt hại về tài sản cho người khác nhưng lại mong muốn hoặc cố ý bỏ mặc hậu quả đó xảy ra với đối tượng bị trộm cắp.
- Mục đích: Mong muốn chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức.
1.2. Hình phạt với tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), cụ thể như sau:
* Khung 1:
Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
+ Tài sản là di vật, cổ vật.
* Khung 2:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
+ Hành hung để tẩu thoát;
+ Tài sản là bảo vật quốc gia;
+ Tái phạm nguy hiểm.
* Khung 3:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
* Khung 4:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
2. Mức phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản
Đối với cá nhân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây ra hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản (cụ thể là dưới 2.000.000 đồng) và chưa bị kết án về các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính
Cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, cá nhân có hành vi trộm cắp tài sản chỉ có thể bị truy cứu TNHS về tội trộm cắp tài sản khi hành vi đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).
Kiến An (t/h)
Nguồn Góc nhìn pháp lý : https://gocnhinphaply.nguoiduatin.vn/bat-giu-nguyen-trong-sim-va-dao-minh-tien-29017.html