Ngày 10/1, tin từ Cổng TTĐT Công an thành phố Đà Nẵng, đơn vị này vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Quang Đại (sinh năm 2003, trú phường Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng) về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Cơ quan điều tra tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Quang Đại
Vào cuộc đấu tranh, Phòng CSHS đã xác định được thông tin về nhân thân, lai lịch của đối tượng. Theo đó, ngày 8- 1, Phòng CSHS đã triệu tập đối tượng Nguyễn Quang Đại (2003, trú phường Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng) làm việc.
Qua đấu tranh với đối tượng, Phòng CSHS xác định: do nắm được thông tin Công ty OPPO chuẩn bị mở bán dòng điện thoại di động mới Find X9, sẽ giảm giá cho nhân viên của công ty với mức từ 30% đến 40% so với giá bán thực tế trên thị trường, anh D. đã nghĩ tới Nguyễn Quang Đại- là nhân viên bán hàng của Công ty OPPO tại Siêu thị Điện máy xanh.
Ngay sau đó, anh D. đã liên lạc nhờ Đại đứng tên mua giúp 5 chiếc điện thoại di động với giá ưu đãi để về bán lại kiếm lời.
Dù đã nghỉ việc tại Siêu thị Đện máy xanh, cũng không biết về chương trình giảm giá… nhưng Đại vẫn nhận lời giúp. Để D. tin tưởng, Đại sử dụng Facebook giả có tên: “Mỹ Linh”, tự nhắn tin qua lại với nội dung: hỏi mua điện thoại, hỏi giá bán, mức chiết khấu… rồi chụp lại màn hình rồi gửi cho anh D. để tạo niềm tin và yêu cầu anh D. chuyển tiền.
Tin tưởng, anh D. đã chuyển tổng số tiền 96,8 triệu đồng cho Đại. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, Đại chiếm đoạt và sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Ngoài ra, quá trình điều tra mở rộng vụ án, Phòng CSHS còn phát hiện, ngày 30- 12- 2025, Nguyễn Quang Đại đã sử dụng tài khoản Facebook có tên “Mỹ Linh” để lừa đảo chiếm đoạt số thuê bao 0376.000.000. Tuy nhiên, khi Đại đang tìm cách rao bán, cầm cố sim điện thoại trên thì bị bắt giữ.
Hiện vụ việc đang được Phòng CSHS tiếp tục điều tra, mở rộng xử lý theo quy định của pháp luật.
Thông tin tham khảo từ Thư viện pháp luật:
1. Thế nào là lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội có hành vi áp dụng các hình thức, thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.
2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự bị xử lý như thế nào?
2.1. Cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự
- Chủ thể: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự
- Khách thể: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
- Mặt chủ quan:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Mặt khách quan:
+ Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
(i) Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
(ii) Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
(iii) Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
+ Về giá trị tài sản: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.000.000 đồng trở lên.
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
2.2. Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự
* Khung 1
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
* Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
* Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
* Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017))
Trần Sơn (t/h)