Nhiều người vẫn cho rằng thừa cân, béo phì đơn giản là hậu quả của việc ăn quá nhiều và ít vận động. Tuy nhiên theo các chuyên gia y tế, cách hiểu này chưa đầy đủ, bởi béo phì là một bệnh mạn tính có cơ chế sinh học phức tạp và cần được điều trị như các bệnh lý khác.
Béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, bệnh tim mạch, ung thư hay các bệnh lý hô hấp. Ảnh minh họa.
Thừa cân, béo phì gia tăng nhanh
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tại Việt Nam hiện có khoảng 19,5% dân số, tương đương gần 20 triệu người, đang ở tình trạng thừa cân hoặc béo phì (BMI từ 25kg/m² trở lên). Tỉ lệ béo phì cũng tăng nhanh trong những năm gần đây.
Cụ thể, tỉ lệ béo phì tại Việt Nam tăng từ 2,6% năm 2010 lên 3,6% vào năm 2014, tương đương mức tăng 38%, thuộc nhóm tăng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Các dự báo cho thấy xu hướng này có thể tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới. Đến năm 2035, tỉ lệ béo phì ở người trưởng thành tại Việt Nam có thể tăng với tốc độ khoảng 6,3% mỗi năm. Đáng chú ý, ở nhóm trẻ em mức tăng dự báo lên tới 9,8% mỗi năm.
Béo phì không chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình mà còn tác động nghiêm trọng đến sức khỏe. Tình trạng này làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, bệnh tim mạch, ung thư hay các bệnh lý hô hấp.
Ngoài ra, người béo phì còn phải đối mặt với nhiều vấn đề về tâm lý, giảm chất lượng cuộc sống và gặp khó khăn trong các mối quan hệ xã hội.
Chia sẻ tại chương trình trực tuyến do Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) phối hợp tổ chức nhằm tuyên truyền về bệnh lý béo phì tại Việt Nam, ThS.BS Trương Lê Vân Ngọc - Trưởng phòng nghiệp vụ, Cục Quản lý khám chữa bệnh - cho biết béo phì đang trở thành vấn đề sức khỏe đáng lo ngại, đặc biệt tại các đô thị lớn.
Theo bà Ngọc, tại một số khu vực đô thị, tỉ lệ thừa cân, béo phì đã ở mức rất cao. Tại TP.HCM, tỉ lệ này đã vượt trên 50%, trong khi ở Hà Nội khoảng 41%.
“Với những địa phương có tỉ lệ cao như vậy, cần có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và quyết liệt hơn để kiểm soát tình trạng béo phì”, bà Ngọc cho biết.
Bà cũng nhấn mạnh rằng quan điểm cho rằng béo phì chỉ do ăn nhiều và ít vận động là cách nhìn đơn giản hóa một vấn đề y học phức tạp. Thực tế, tình trạng này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như di truyền, nội tiết, môi trường sống, chế độ dinh dưỡng, thói quen sinh hoạt và các yếu tố xã hội.
Đối với trẻ em, sự gia tăng béo phì đang tạo ra nhiều hệ lụy. Theo bà Ngọc, mọi trẻ em đều xứng đáng có cơ hội phát triển khỏe mạnh, nhưng béo phì có thể tác động tiêu cực đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, đồng thời làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây trong suốt quá trình trưởng thành.
Nhằm hỗ trợ điều trị, năm 2022 Bộ Y tế lần đầu tiên ban hành hướng dẫn chính thức về chẩn đoán và điều trị béo phì tại Việt Nam. Hướng dẫn này bao gồm nhiều biện pháp như thay đổi lối sống, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, tăng cường vận động, sử dụng thuốc và trong một số trường hợp có thể cần can thiệp phẫu thuật.
Hiện Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp với các hội chuyên ngành để cập nhật hướng dẫn điều trị béo phì cho người lớn, đồng thời xây dựng hướng dẫn riêng cho trẻ em và vị thành niên.
Không chỉ là vấn đề “ăn nhiều - ít vận động”
PGS.TS Hồ Thị Kim Thanh - Giám đốc Trung tâm Y học gia đình và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội - cho biết một trong những rào cản lớn trong công tác phòng chống béo phì là nhận thức chưa đúng của cộng đồng.
Theo bà Thanh, phần lớn người thừa cân, béo phì tại Việt Nam cho rằng đây chỉ là vấn đề về hình thể và có thể tự quản lý. Nhiều người tự tìm cách điều trị dựa trên truyền miệng hoặc lời mách bảo, trong khi hiệu quả và độ an toàn của các phương pháp này chưa được kiểm chứng.
Người béo phì cần được đánh giá toàn diện để đưa ra phương án điều trị phù hợp.
Một quan niệm phổ biến khác là chỉ cần ăn kiêng nghiêm ngặt và tập luyện nhiều sẽ giải quyết được tình trạng béo phì. Tuy nhiên trên thực tế, khi lượng năng lượng nạp vào giảm mạnh, cơ thể có thể kích hoạt cơ chế thích nghi nhằm tiết kiệm năng lượng.
Khi quay trở lại chế độ ăn bình thường, cân nặng dễ tăng trở lại. Hiện tượng này thường được gọi là “hiệu ứng quả lắc”.
Theo thống kê, khoảng một nửa số cân nặng đã giảm có thể tăng trở lại trong vòng hai năm và hơn 80% có thể tăng lại trong vòng năm năm.
Bà Thanh cho biết các biện pháp thay đổi lối sống thường chỉ giúp giảm cân ở mức khiêm tốn, khoảng 3 - 5% cân nặng. Vì vậy để kiểm soát cân nặng bền vững và cải thiện sức khỏe, nhiều trường hợp cần thêm các liệu pháp hỗ trợ như điều trị bằng thuốc.
Ngoài ra, bà cũng cảnh báo nhiều phương pháp giảm béo tại các spa chủ yếu tác động lên lớp mỡ ngoại vi. Những phương pháp này có thể giúp vòng eo nhỏ lại nhanh chóng nhưng không làm giảm mỡ nội tạng - yếu tố có liên quan chặt chẽ đến nguy cơ mắc các bệnh lý nguy hiểm.
Theo Liên đoàn Béo phì thế giới, béo phì được định nghĩa là một bệnh mạn tính có tính tái phát và tiến triển. Do đó mục tiêu điều trị không chỉ dừng lại ở việc giảm cân mà còn nhằm phòng ngừa các biến chứng lâu dài.
Các chuyên gia cho rằng người béo phì cần được nhân viên y tế đánh giá toàn diện để cân đối giữa nguy cơ và lợi ích, từ đó đưa ra phương án điều trị phù hợp. Những biện pháp này có thể bao gồm thay đổi lối sống, sử dụng thuốc hoặc can thiệp phẫu thuật trong những trường hợp cần thiết.
Việc phát hiện và điều trị sớm không chỉ giúp kiểm soát cân nặng mà còn góp phần giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp và bệnh tim mạch - những gánh nặng lớn đối với hệ thống y tế và sức khỏe cộng đồng trong tương lai.
Hữu Thông