Hơn bốn thế kỷ qua, người dân Địch Đình vẫn thắp hương trước con chó đá được vớt lên từ sông Hát. Truyền thuyết dân gian, những câu chuyện kỳ lạ và cách lý giải của các nhà nghiên cứu khiến tục thờ đặc biệt này trở thành một lát cắt độc đáo của tín ngưỡng Việt.
Tượng chó đá 400 tuổi giữa làng cổ Địch Đình. (Ảnh: Nhật Thùy)
Pho tượng kỳ lạ giữa làng cổ
Buổi chiều cuối năm, con đường nhỏ dẫn vào làng Địch Đình (xã Liên Minh, Hà Nội) phủ sắc nắng nhạt. Trên gò đất cao cạnh chùa Địch Vỹ (tên cũ của làng), pho tượng chó đá hơn 400 tuổi ngồi hướng ra dòng nước. Người dân gọi đó là Thần Cẩu - vị thần được làng thờ phụng suốt bốn thế kỷ.
Pho tượng lớn cao khoảng 1,4 mét được tạc theo dáng chó ngồi, thân hình chắc khỏe, mặt hướng thẳng, dáng vẻ nghiêm nghị như một vị thần gác cửa. Tượng đặt trên bệ đá vuông, xung quanh là 16 pho tượng chó nhỏ đủ tư thế, cách đình làng chỉ vài chục bước chân, vừa như chứng nhân của những mùa lũ, vừa như người gác cổng thầm lặng của làng Địch Đình.
Người dân gọi tượng lớn là “quan lớn”, “quan Hoàng”, hay kính cẩn hơn là “Hạ Giới đại vương”.
Ông Bùi Xuân Bình - một trong những người cao tuổi của làng - chỉ tay về phía bệ thờ, giọng chậm rãi: “Xưa kia, pho tượng này trôi dạt về từ sông Hát. Dân làng vớt lên, nhưng cứ chuyển đi đâu thì nó lại tự quay trở về nghĩa địa làng. Cuối cùng, các cụ phải lập miếu thờ. Từ đó, làng yên ổn, không còn chuyện bất an”.
Ông Bùi Xuân Bình, một trong những người cao tuổi của làng. (Ảnh: Nhật Thùy)
Câu chuyện ông Bình kể không phải là duy nhất. Gần như mỗi gia đình trong làng đều có một phiên bản truyền thuyết riêng. Có người bảo đó là một con chó đá của triều đình xưa bị thất lạc trong chiến loạn. Có người lại bảo nó là hóa thân của quan Hoàng Thạch, người từng bị vu oan rồi chết thảm nhưng không hề oán hận, linh hồn hóa thành chó đá vẫn phù hộ cho người dân quê mình.
“Các cụ kể lại rằng ông Hoàng Thạch oan khuất lắm. Bị hãm hại, bị chém oan, xác thả xuống sông, nhưng rồi trôi đến đâu cũng quay lại cửa sông Hát. Làng mình coi đó như điềm, lập miếu thờ để linh hồn ông có chỗ yên”, một bậc cao niên nói và xoa nhẹ vào lớp rêu phong trên thân tượng, như thể đang trò chuyện với người.
Dù mỗi người kể một dị bản, nhưng điểm chung là niềm tin pho tượng này không phải ngẫu nhiên xuất hiện ở Địch Đình. Sự kỳ lạ trong hành trình “trôi - trở - trấn” khiến bụi mờ thời gian không thể xóa đi lòng tôn kính. Với dân làng, pho tượng không là một con chó đá vô tri, mà là một vị thần che chở cho cả vùng.
Trong làng, hiếm ai không nghe những chuyện kỳ lạ quanh pho tượng, trong đó có hiện tượng: Dù đặt ngoài trời hàng trăm năm, trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, tượng chó đá lớn hầu như không có rêu mốc, mặt đá vẫn sáng; chỉ vài tượng chó nhỏ bên dưới có vết xanh mốc. Ông Bình cho biết dân gian lý giải “vì chó đá ấy non hơn”.
Người làng tin rằng, sự ấm no, thịnh vượng của họ một phần là do “quan Hoàng” ban cho. “Làng tôi nghèo lắm, xưa chỉ làm ruộng vùng trũng. Nhưng từ ngày thờ quan Hoàng, dân ấm no dần lên, an ninh trật tự yên ổn, nhà ai mất của cũng ra khấn. Cãi nhau cũng kéo nhau lên ăn thề trước quan lớn… Người làng tin ngài lắm”, ông Bình mỉm cười.
Thỉnh thoảng, có người truyền miệng về những vụ mất cắp chợt dừng hẳn, những mùa lũ nước đứng lại đúng bậc đá, những đứa trẻ đi lạc tìm được đường về… Tất cả đều được gắn với sự che chở của Thần Cẩu. “Nói mê tín thì cũng được, nhưng thờ để lòng an, để nhớ rằng đất này có linh, người này sống với nhau có nghĩa. Thế là đủ”, một bà lão bán hàng trong làng cười hiền.
Tượng chó đá được thờ phụng như vị thần hộ mệnh của làng. (Ảnh: Nhật Thùy)
Lời giải từ góc nhìn văn hóa
Tại sao người Việt thờ chó đá? Tại sao ở Địch Đình - nơi không phải cửa ải, không phải làng nghề, không phải vùng biên - lại duy trì tục thờ này suốt nhiều thế kỷ?
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vỹ lý giải, chó đá là một trong những loại “linh vật canh giữ” phổ biến nhất trong tín ngưỡng Việt cổ: “Tượng chó đá thường đặt ở sân, cổng nhà hay cổng đình để trấn giữ, xua đuổi tà khí. Chó là loài trung thành, thính tai, thức đêm, được thuần hóa để bảo vệ con người từ rất sớm”.
Từ góc nhìn văn hóa học, pho tượng ở Địch Đình có thể không liên quan trực tiếp đến quan Hoàng Thạch hay con người cụ thể chịu oan khuất nào cả. Truyền thuyết về oan hồn hóa đá chỉ là cách dân làng lý giải sự xuất hiện của pho tượng theo cách quen thuộc của dân gian.
“Nhiều làng khi tìm thấy vật lạ như khúc gỗ, tấm đá, cột cầu…đều sáng tạo ra câu chuyện linh thiêng. Đó là mô típ cổ tích châu Á: Người đi lính, kẻ ở nhà, oan khuất, hóa vật thiêng, nghĩa là đồ thờ có trước, truyền thuyết kể sau”, nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ nói.
Xung quanh tượng lớn là là 16 pho tượng chó nhỏ đủ tư thế. (Ảnh: Nhật Thùy)
Ngày nay, tốc độ đô thị hóa đã thay đổi nhiều thứ ở vùng quê Địch Đình nhưng pho tượng chó đá vẫn ở đó, giữa bệ gạch cũ, giữa mùi nhang, giữa tiếng chuông chùa bên cạnh. Người dân Địch Đình không còn kể chuyện Thần Cẩu với vẻ tin tưởng tuyệt đối như trước, nhưng mỗi khi có chuyện quan trọng - dựng nhà, cưới xin, mở quán - họ vẫn đến thắp hương.
“Tín ngưỡng là để nhắc mình sống tử tế. Thần có linh hay không không quan trọng bằng chuyện người trong làng biết kính trên nhường dưới, giữ cái tình với nhau”, ông Bình nói.
Nhật Thùy