Bia khóc cha trên vách động Nhị Thanh

Bia khóc cha trên vách động Nhị Thanh
5 giờ trướcBài gốc
Động Nhị Thanh – nơi thờ cúng và lưu giữ nhiều kỷ vật, dấu tích về quan Đốc trấn Lạng Sơn Ngô Thì Sĩ
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là con trai cả của Ngô Thì Sĩ - một trí thức, danh nhân tiêu biểu của nước ta cuối thế kỷ XVIII. Với tài năng “văn võ song toàn”, ông được vua Lê - Chúa Trịnh và nhà Tây Sơn trọng dụng, trao nhiều trọng trách. Theo các tư liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, khi Ngô Thì Sĩ đương chức Đốc trấn ở Lạng Sơn thì Ngô Thì Nhậm cũng đang làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, kiêm Đốc đồng Thái Nguyên (chức quan giúp việc cho Trấn thủ). Ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1780), Ngô Thì Sĩ đột ngột qua đời ở nhiệm sở Lạng Sơn, Ngô Thì Nhậm vội vã từ Thái Nguyên về kinh thành dâng biểu xin Chúa Trịnh cho đưa thi hài cha về quê (làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam) an táng. Bài“Chịu tang bái khóc cha” được Ngô Thì Nhậm viết trong những ngày diễn ra tang lễ kể về sự ra đi của Ngô Thì Sĩ, hành trình đưa cha trở về quê với nỗi niềm đau thương vô hạn. Bài ký được viết bằng chữ Hán dài gần một ngàn từ, khắc trên trần hang Nhị Thanh, ngay phía trước phù điêu tượng truyền thần Ngô Thì Sĩ. Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn biên dịch (bản dịch của Vương Đắc Huy), in lần đầu tiên trong cuốn “Ngô Thì Sĩ với văn bia Lạng Sơn” năm 2015.
Hành trình đưa cha về quê hương
Trong bài“Chịu tang bái khóc cha”, Ngô Thì Nhậm đã kể khá tường tận về những giờ phút cuối đời của Ngô Thì Sĩ ở Xứ Lạng. Theo đó, sáu ngày trước khi mất, sau khi đi công việc ở ải Nam Quan quay về, Ngô Thì Sĩ lên động Nhị Thanh ngủ một giấc rồi trở về dinh Lộc Mã ở phía Tây Đoàn Thành (thành Lạng Sơn). Thấy trong người mệt mỏi, biết mình đã đến giờ phút lâm chung, ông cho gọi sư sãi ở chùa Nhị Thanh đến tụng kinh cho mình. Sau ba ngày ba đêm liền tụng kinh Đại Pháp Hoa, ông sai người mang giấy ra viết lời dặn dò. Kể từ đó ông mê man, bất tỉnh rồi mất vào giờ Hợi – ngày 25 tháng 9 âm lịch năm Canh Tý (1780). Xét công lao phụng sự ở biên ải của Đốc trấn Ngô Thì Sĩ, Chúa Trịnh đã cấp cho Ngô Thì Nhậm 100 quan tiền để lo việc tang ma, đồng thời “truyền cho quan quân ở các cơ Tín sai, Hậu dực Trung uy, Tiền hùng ở xứ Kinh Bắc cùng tới tận Đoàn Thành để hộ tang”. Trải qua hành trình 10 ngày ròng rã từ Kinh thành lên Xứ Lạng, Ngô Thì Nhậm và người em trai thứ hai Ngô Thì Chí (1753 – 1788) đã đến Đoàn Thành. Họ vào dinh Lộc Mã, cúi lạy trước linh cữu cha, rồi cùng nhau lên động Nhị Thanh chiêm bái tượng truyền thần Ngô Thì Sĩ với lòng tiếc thương vô hạn. Di hài quan Đốc trấn Ngô Thì Sĩ được đưa ra phía cửa Bắc Đoàn Thành, rồi theo đường cũ qua Quỷ Môn Quan để trở về quê hương. Trên đường đi, đến đoạn Bắc Giang đã có sư Tịch Quảng trụ trì ở chùa Sơn Động cùng các tướng lĩnh, dân chúng bố trí chờ sẵn trợ giúp cho đoàn.
Sáng mãi tấm gương vì nước vì dân
Trong lịch sử phát triển của tỉnh Lạng Sơn thời phong kiến, Ngô Thì Sĩ là một trong số người có nhiều công lao đóng góp. Không chỉ nỗ lực khôi phục, chấn hưng kinh tế ở vùng biên cương đang lâm vào cảnh đói nghèo, Nhân dân ly tán khắp nơi, ông còn là người khai phá, tôn tạo nhiều di tích, danh lam thắng cảnh của Lạng Sơn trở thành những di sản văn hóa còn mãi đến ngày nay: động Nhị Thanh, chùa Tam Giáo, chùa Tiên… Người dân Xứ Lạng luôn biết ơn ông, văn bia “Điều lệ phụng sự bản động” khắc trong động Nhị Thanh tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780) đã nói lên công lao trời biển đó của ông. Dân xã Vĩnh Trại tôn kính bầu ông là phúc thần khi ông đang còn sống. Khi lên Lạng Sơn chịu tang cha, Ngô Thì Nhậm đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng hết sức cảm động “Người địa phương khóc lóc như mưa và nói: Tiên quân đã rời bỏ Quân doanh mà đi rồi…”. Tình cảm của người dân Lạng Sơn đối với vị quan Đốc trấn rất mực chân thành, sâu nặng. Dân bảy châu khóc ông, người dân xã Vĩnh Trại rước linh vị của Ngô Thì Sĩ vào động Nhị Thanh để phụng thờ, gọi đó là “Di Ái đường”, đồng thời cùng nhau đặt điều lệ thờ cúng mãi mãi về sau.
Sự ra đi của Ngô Thì Sĩ là mất mát hết sức lớn lao đối với Ngô Thì Nhậm và gia đình. Nhưng với ông, nỗi tiếc thương đó không chỉ có bi lụy mà luôn xen lẫn niềm tự hào và lòng biết ơn cao cả. Là người từng giữ nhiều trọng trách trong triều, Ngô Thì Nhậm thấu hiểu sâu xa tầm vóc, những đóng góp lớn lao của Ngô Thì Sĩ với Xứ Lạng. Ông đã dành những lời hay ý đẹp để viết về cha trong giờ phút ly biệt đau thương:“Công đức của Tiên quân mãi trấn trị ngoài biên cương phía Bắc để làm bức phên dậu che chở. Danh tiếng của Tiên quân còn lưu tại những áng văn chương. Tuổi thọ của Tiên quân còn lưu mãi như dòng chảy của sông núi. Phúc ấm của Tiên quân còn mãi ở sự thành kính phụng thờ lâu dài của đời đời con cháu…”. Với Ngô Thì Nhậm, sự ra đi của Ngô Thì Sĩ chưa phải là đã hết, cha ông vẫn sống mãi với Xứ Lạng thân thương “biến hóa vào bảng, tượng để khởi nguồn mạch lớn cho mọi người bám vịn vào mà dẫn dắt qua sông”. Phẩm chất đạo đức cao đẹp của Ngô Thì Sĩ cũng là tấm gương sáng để con cháu noi theo.
Bài ký “Chịu tang bái khóc cha” của Ngô Thì Nhậm không chỉ có ý nghĩa như một bài điếu, chứa đựng những tư liệu chân xác mà còn là một áng văn có tính nghệ thuật cao với ngôn từ chắt lọc, giàu hình ảnh, nhạc điệu. Qua đó đã góp phần khắc họa chân thực, rõ nét chân dung của một danh nhân đất nước và quê hương Xứ Lạng. Người “đi xa” nhưng tiếng thơm còn mãi...
CHU QUẾ NGÂN
Nguồn Lạng Sơn : https://baolangson.vn/van-bia-khoc-cha-cua-ngo-thi-nham-tren-vach-da-dong-nhi-thanh-5094363.html