Biểu tượng ngựa nhìn từ góc độ văn hóa và ngôn ngữ

Biểu tượng ngựa nhìn từ góc độ văn hóa và ngôn ngữ
5 giờ trướcBài gốc
Vua Quang Trung và chiến mã. (Tranh dân gian)
Ngựa trong ngôn ngữ đời sống người Việt
Con ngựa, đâu chỉ phải để kéo xe hay để cho người cưỡi, nó còn biểu trưng cho người giàu sang phú quý, bởi thời xưa có sự cách biệt về địa vị xã hội giữa người đi bộ và người cưỡi ngựa. Do tính biểu trưng của con ngựa trong đời sống xã hội mà tiếng Việt đã sinh ra từ ngựa xe và những thành ngữ lên xe xuống ngựa, ngựa xe như nước,… để tả cảnh phồn hoa đô thị.
Tiếng Việt có ba từ ngữ được dùng liên quan đến ngựa: ngựa, ngọ, mã. Hoạt động của chúng trong giao tiếp cho thấy sự tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa đa chiều, đa diện của tiếng Việt, người Việt.
Ngựa là một từ thuần Việt, vì vậy, những từ ngữ, câu nói liên quan tới ngựa mang tính biểu trưng đều có nguồn gốc phương Nam và văn hóa Việt Nam. Theo tư duy ngôn ngữ biểu tượng này, tiếng Việt sản sinh hàng loạt từ ngữ biểu thị tính cách con người liên quan tới ngựa: ngựa chứng, ngựa hí, ngựa hoang, ngựa theo đường cũ, ngựa bất kham, vành móng ngựa, thân trâu ngựa, kiếp trâu ngựa, thẳng ruột ngựa…
Chữ mã 馬 (ngựa) trong Hán văn là chữ tượng hình, phác họa hình dáng của ngựa. Mã là từ Hán Việt (từ Việt mượn Hán), do vậy, có nguồn gốc phương Bắc. So với phương Nam, phương Bắc vốn xuất phát từ nền văn minh du mục và nông nghiệp cạn, những cuộc di chuyển trên thảo nguyên bao la hay trên những con đường thiên lý đòi hỏi họ phải quý trọng con ngựa.
“Nam di chu, Bắc di mã” (người phương Nam di chuyển bằng thuyền, người phương Bắc di chuyển bằng ngựa) là minh chứng sống động nhất. Vì thế, người phương Bắc dùng nhiều mỹ từ để diễn tả con vật của mình, nào là “tuấn mã”, “kim mã”, nào là “bạch mã”, “long mã” và gắn ngựa với ý nghĩa may mắn: “mã đáo thành công”.
Khi xử lý một tên tội đồ, người ta dùng chiêu “tứ mã phanh thây”. Khi nói về kinh nghiệm đường đời, họ nói “Lão mã thức đồ” (Ngựa già biết rõ đường đi lối về)...
Như vậy, những từ ngữ, câu nói liên quan tới “mã” trong tiếng Việt hoặc đều có nguồn gốc phương Bắc hoặc do tiếp xúc với văn hóa phương Bắc mà thành. Những cách nói hoa mỹ như: thiên lý mã để chỉ những con ngựa chạy nhanh nghìn dặm, lạm phát phi mã (chỉ sự lạm phát không kiềm chế nổi), đơn thương độc mã (một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai)... đều là sản phẩm của sự giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ.
Ngọ trong tiếng Việt cũng được hiểu là ngựa. Chúng ta chưa có dịp để bàn kỹ hơn vì sao ngọ lại là ngựa hay ngựa có nguồn gốc từ ngọ, song có một điều chắc chắn rằng, từ xa xưa, người ta đã dùng chữ ngọ để biểu thị cho ngựa. Năm Ngọ là năm con ngựa.
Có giả thuyết rằng, chữ ngọ (午) là tượng hình dây cương, từ đó mở rộng nghĩa để chỉ con ngựa; có người lại hiểu ngựa là biểu tượng mặt trời, thuộc dương hỏa, tượng trưng cho sức nóng. Đó là lý do vì sao trong một ngày, giờ nóng nhất (giữa trưa) được biểu thị bằng giờ Ngọ, và trong một năm, tháng nóng nhất được biểu thị bằng tháng Ngọ, có Tết Đoan Ngọ.
Ngọ còn có cách đọc khác là ngũ. Ngọ, ngũ đều là âm Hán Việt của 午, ngọ là âm xưa từ đời Hán, còn ngũ là âm từ đời Đường, thuộc hệ thống ngữ âm Hán Việt hiện đại nhưng không dùng phổ biến nên ít được biết đến. Nói nôm na, ngọ - ngũ - ngựa đều có tương quan ngữ âm - ngữ nghĩa, và đều do một gốc mà ra, phương Nam hoặc phương Bắc, mà suy rộng ra là sản phẩm của văn hóa phương Đông.
Linh vật Ngựa Vàng chào xuân tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Ảnh: Tư liệu
Ngựa trong tâm thức văn hóa Việt
Từ ngôn ngữ đến văn hóa hay từ danh xưng đến biểu tượng, các từ ngữ đó phải trở thành các từ - biểu tượng. Những từ - biểu tượng này không phải mang trong nó tất cả ý nghĩa của “mẫu gốc” của một nền văn hóa mà tùy theo sự tri nhận của mỗi dân tộc mà chỉ một số ý nghĩa biểu tượng của “mẫu gốc” được hiện thực hóa ở các từ - biểu tượng.
Chính điều này tạo nên sự khác biệt về cấp độ trong sự chuyển hóa của các “mẫu gốc” thành các biểu tượng ngôn ngữ - văn hóa ở các dân tộc khác nhau, trong đó có văn hóa Việt, tiếng Việt và người Việt.
Ngựa biểu trưng cho sự nhanh nhẹn, sức dẻo dai, bền bỉ: Sự nhanh nhẹn là đặc tính vốn có của loài ngựa, do đó, dân gian đã ví ngựa chạy nhanh đến nỗi đuổi kịp gió qua thành ngữ “Ngựa truy phong”. Ngoài sự nhanh nhẹn, ngựa là loài vật có sức bền bỉ. Ngày xưa, xe ngựa là một phương tiện giao thông điển hình. Từ thực tế cuộc sống này, người Việt đã đúc rút nên những kinh nghiệm sống qua tính chất của loài ngựa: “Ngựa mạnh chẳng quản đường dài”, “Đường dài mới hay sức ngựa”.
Ngựa biểu trưng cho sự ngạo mạn, sự phản bội và bất trị: Để biểu trưng cho sự ngạo mạn, kiêu căng, thích đối đầu nhưng không lượng được sức mình, người Việt dùng hình ảnh “Ngựa non háu đá”. Hay khi muốn biểu đạt những điều lặp lại những hành động sai lầm đáng tiếc do thói quen khó bỏ, dân gian lại liên tưởng đến hình ảnh biểu trưng “Ngựa quen đường cũ”, “Ngựa chạy đường quay”.
Hơn nữa, ngựa còn là con vật khó thuần dưỡng nên người có tính ương bướng, ăn chơi lêu lổng không ai quản thúc nổi thì chẳng khác nào “Ngựa bất kham”.
Đối với loài ngựa, người chủ phải có dây cương để điều khiển và quản giáo, do vậy, để nói về hoàn cảnh xã hội không bình đẳng, người vợ bị người chồng áp bức, quản thúc trong xã hội cũ, hay sự ràng buộc về luân thường đạo lý của người phụ nữ đã có chồng, không liên tưởng nào hay hơn cách nói “Có chồng như ngựa có cương” của người Việt.
Ngựa biểu trưng cho sự xa xôi cách trở ngàn trùng: Ngựa gắn liền với lính chiến và trận mạc, cho nên nó còn là biểu trưng cho chốn xa xôi cách trở ngàn trùng nơi biên ải. Cái cảnh “dặm nghìn da ngựa” luôn liên tưởng đến sự xông pha nơi chiến trường, vất vả khó khăn, cũng là nơi thử thách chí làm trai thời chinh chiến:
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” (Chinh phụ ngâm), không ngại cảnh “Da ngựa bọc thây” với tâm trạng đầy hào khí nam nhi, cũng như cảnh chia ly “Ngựa Hồ, chim Việt” giữa chinh phu và chinh phụ. Nguyễn Du đã dùng tới 13 lần trong 12 câu để khắc họa những con ngựa rất tài hoa.
Nghĩ về biểu tượng ngựa trong văn hóa và ngôn ngữ, người viết cũng chỉ là “Cưỡi ngựa xem hoa” trong thế giới biểu tượng phong phú và huyền bí. Cổ nhân đã dạy: “Muốn đi xa phải giữ gìn sức ngựa”, dẫu rằng “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” nhưng với tấm lòng “Thẳng như ruột ngựa”, kính chúc mọi người một năm mới “Mã đáo thành công”.
PGS.TS. TRẦN VĂN SÁNG
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/bieu-tuong-ngua-nhin-tu-goc-do-van-hoa-va-ngon-ngu-3325027.html