Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang thu hút nhiều ý kiến góp ý, đặc biệt xoay quanh quy định về kiểm tra sau thông quan. Các quy định liên quan đến phạm vi và thời hạn kiểm tra không chỉ tác động trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng đáng kể đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 77 của dự thảo, kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong phạm vi tối đa 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đến ngày ban hành quyết định kiểm tra.
Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành và địa phương như Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bộ Quốc phòng cùng cộng đồng doanh nghiệp cho rằng quy định này vẫn còn những khoảng trống nhất định khi áp dụng vào tình huống phát sinh thực tế.
Theo đó, việc ấn định cứng mốc thời gian 5 năm có thể gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong trường hợp phát hiện vi phạm sau thời gian dài. Khi đó, khả năng mở rộng kiểm tra bị hạn chế, kéo theo nguy cơ không thu hồi đầy đủ số thuế phải nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế.
"Cần xác định rạch ròi rằng trong 5 năm đầu, cơ quan quản lý có thể vừa truy thu vừa xử phạt; còn trong giai đoạn từ trên 5 năm đến 10 năm thì chỉ áp dụng truy thu. Nếu không quy định rõ ràng, nguy cơ xung đột pháp luật khi cơ quan hải quan ban hành quyết định xử lý là hoàn toàn có thể xảy ra".
(Góp ý của VCCI)
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, quy định thời hạn tối đa 5 năm là hợp lý, song cần có sự dẫn chiếu rõ ràng đến khoản 7 và khoản 8 Điều 44 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
Về phía cơ quan soạn thảo, Bộ Tài chính bảo lưu quan điểm giữ nguyên quy định hiện hành trong dự thảo. Lý giải cho điều này, Bộ cho rằng việc giới hạn 5 năm là phù hợp với yêu cầu ổn định chính sách và giúp doanh nghiệp có cơ sở dự báo.
Đồng thời, quy định này cũng góp phần phân định rõ ranh giới giữa kiểm tra sau thông quan với các hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành khác, qua đó hạn chế tình trạng trùng lặp trong thực thi.
Bộ Tài chính nhấn mạnh, nếu phát hiện hành vi vi phạm về thuế, cơ quan chức năng vẫn có thể áp dụng các quy định của pháp luật về quản lý thuế để xử lý độc lập, không phụ thuộc vào việc mở rộng phạm vi kiểm tra sau thông quan.
Không chỉ dừng lại ở phạm vi kiểm tra, thời hạn kiểm tra sau thông quan quy định tại Điều 79 cũng đang là điểm thu hút sự chú ý. Dự thảo hiện quy định thời hạn kiểm tra tối đa 20 ngày, tính từ thời điểm bắt đầu tiến hành kiểm tra, và có thể gia hạn một lần không quá 20 ngày đối với các trường hợp có phạm vi lớn hoặc nội dung phức tạp.
"Thời hạn kiểm tra sau thông quan nên được tính từ thời điểm công bố quyết định kiểm tra thay vì khi bắt đầu tiến hành kiểm tra, nhằm đảm bảo tính minh bạch và dễ theo dõi. Đồng thời, xem xét chuyển sang tính theo “ngày làm việc” và rút ngắn xuống còn 10 hoặc 15 ngày nhằm tránh tình trạng thời gian kiểm tra bị “kéo dài hình thức” do bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ".
(Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội về Hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của Luật Hải quan)
Tuy nhiên, nhiều địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp lớn như Samsung, Canon hay các hiệp hội dệt may, da giày đề nghị điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn nhằm hạn chế gián đoạn hoạt động sản xuất, giảm chi phí tuân thủ và phù hợp với định hướng cải cách thủ tục hành chính.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp cho rằng cần áp dụng cơ chế phân loại theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng chung một khung thời gian cho mọi trường hợp.
Theo đó, những doanh nghiệp tuân thủ tốt, hồ sơ đơn giản có thể được kiểm tra trong thời gian ngắn, trong khi các trường hợp phức tạp mới cần kéo dài và áp dụng gia hạn. Cách tiếp cận này được kỳ vọng vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa giảm áp lực cho doanh nghiệp.
Dù vậy, Bộ Tài chính không đồng thuận với các đề xuất này. Cơ quan soạn thảo cho rằng hoạt động kiểm tra sau thông quan có tính chất đặc thù, thường liên quan đến khối lượng lớn hồ sơ, chứng từ, dữ liệu kế toán và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian dài, do đó cần quỹ thời gian đủ để đánh giá toàn diện, chính xác.
“Việc quy định thời hạn tối đa 20 ngày, cùng với khả năng gia hạn là phù hợp với thực tiễn quản lý và vẫn đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước. Nếu rút ngắn thời gian, nguy cơ bỏ sót vi phạm hoặc phải tiến hành kiểm tra nhiều lần là khá lớn”, Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng lý giải việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn từ khi “bắt đầu tiến hành kiểm tra” là phù hợp với quy trình nghiệp vụ, bởi trước đó cơ quan chức năng cần có thời gian chuẩn bị. Việc không đồng nhất cách tính thời hạn với các lĩnh vực khác là phù hợp với đặc thù riêng của lĩnh vực hải quan và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khai hải quan, Bộ Tài chính cho biết.
Hoàng Sơn