Nghệ sĩ Nhà hát Nghệ thuật Đồng Nai biểu diễn chào mừng Lễ giỗ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Ảnh: My Ny
Trấn Biên - Biên Hòa là những địa danh lịch sử gắn với truyền thống văn hóa của cộng đồng cư dân sinh sống qua nhiều thời kỳ khi đất nước hướng về phương Nam. Sự đa dạng của cư dân từ các vùng miền đến Đồng Nai sinh sống qua các thời kỳ lịch sử không chỉ có sự tương đồng mà còn có cả những khác biệt mang nét độc đáo các tộc người. Điều này đã góp phần tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa Đồng Nai.
Những trầm tích cổ trong lòng đất
Từ không gian mênh mông của đại ngàn phía Tây Bắc đến cù lao của miệt hạ sông Đồng Nai hướng Đông Nam, những di chỉ về người cổ tụ cư qua hàng ngàn năm, để lại những dấu ấn sâu đậm. Những thanh âm của đàn đá Lộc Hòa, Bình Đa đã vang lên cách ngày nay hơn 3 ngàn năm. Kỹ năng chế tác các thanh đoạn của “thạch cầm cổ” tuy còn mang dấu vết thô sơ nhưng đã thể hiện rõ sự cảm thụ tinh tế về nghệ thuật của người xưa trong đời sống sinh hoạt. Giá trị của những bộ đàn đá Lộc Hòa, Bình Đa được đánh giá cao khi được xếp vào danh mục bảo vật quốc gia: đàn đá Lộc Hòa (năm 2017), đàn đá Bình Đa (năm 2023).
Vùng đồi núi cao của Đồng Nai lưu dấu tích của thành trì mà cư dân cổ xưa dày công tạo dựng. Đó là hàng chục dấu tích thành đất hình tròn được phát hiện. Mỗi thành có diện tích khác nhau nhưng kiến trúc tương đồng với những bờ thành đất cao bao bọc hình tròn, song song đồng tâm và cách biệt bởi những hào sâu. Bên trong là một khoảng đất bằng phẳng và rộng rãi, hơi trũng so với địa hình sông ngòi. Những cấu trúc đắp đất khổng lồ này, tiêu biểu là thành Lộc Tấn 2, phản ánh một mô hình cư trú có tổ chức chặt chẽ và tư duy phòng thủ - thủy lợi sơ khai của người xưa. Trên 3 ngàn năm trước, khu vực Bình Phước cũ đã xuất hiện các cộng đồng cư dân với tổ chức xã hội cao, thể hiện qua sự tập trung sức mạnh cộng đồng xây dựng hệ thống thành đất bảo vệ cư trú. Một số di tích thành tròn này được xếp hạng di tích lịch sử: Thành đất Thuận Lợi 1 (cấp tỉnh, năm 2019), thành đất Lộc Tấn 2 (cấp tỉnh, năm 2016; cấp quốc gia, năm 2019).
Vùng đất đỏ bazan Xuân Lộc nổi bật với công trình mộ cự thạnh Hàng Gòn được phát hiện từ thập niên 20 của thế kỷ XX. Cách đây hơn 2 ngàn năm, lớp cư dân cổ - bằng trí tuệ và sức mạnh đã dựng hầm mộ từ những tấm đá hoa cương và cột trụ cao được ghè đẽo nặng hàng chục tấn. Những hiện vật được phát hiện phản ánh đây không chỉ là nơi mộ táng bình thường mà còn biểu đạt về một thế giới tâm linh khá sâu sắc của con người. Đồng thời kiến trúc đồ sộ từ những tấm đá có trọng lượng lớn, được khoét rãnh để lắp nối và trụ đá lõm hình yên ngựa trong bối cảnh thời sơ kỳ đồ đồng cho thấy sức mạnh và tư duy kỹ thuật tài tình của cư dân vùng đất này. Mộ cự thạch Hàng Gòn được Viện Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng (năm 1930), Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia (năm 1982), cấp quốc gia đặc biệt (năm 2015).
Bộ sưu tập vũ khí (lưỡi qua) và tượng trút (tê tê) từ chất liệu đồng phát hiện ở Long Giao (xã Cẩm Mỹ) là dấu ấn tiêu biểu về kỹ thuật chế tác trên kim khí của con người cách đây hơn 2 ngàn năm. Tượng trút đồng được xem là vật tổ trong tín niệm của cư dân tiền sử Đồng Nai, được đúc khuôn, tạo hình sống động. Bộ sưu tập qua đồng gồm nhiều kích cỡ, số lượng phong phú; đặc biệt là trang trí, chạm khắc những dạng hoa văn độc đáo, tinh xảo. Những hiện vật quý giá phản ánh một chặng đường phát triển rực rỡ của nền văn minh tiền sử Đồng Nai: từ tín niệm dân gian đến trình độ mỹ thuật qua kỹ thuật của nghề luyện kim cổ và biểu trưng sức mạnh cộng đồng, thủ lĩnh qua vũ khí. 2 sưu tập hiện vật này được công nhận bảo vật quốc gia: Tượng trút đồng (năm 2021), qua đồng Long Giao (năm 2024).
Sự hội tụ giá trị di sản từ các truyền thống văn hóa
Những biến chuyển xã hội đã tác động đến những lớp cư dân cổ Đồng Nai, bước vào thời kỳ mới với sự hình thành các vương quốc vào đầu Công nguyên đến sự du nhập của nhiều luồng cư dân cho đến thế kỷ XVII. Trong bối cảnh phát triển chung của khu vực Đông Nam Á, vùng đất Đồng Nai giao thoa và tiếp biến trên nhiều lĩnh vực với các luồng văn hóa của các cư dân đến từ nhiều nơi. Những hiện vật, di chỉ khảo cổ được nghiên cứu cho thấy một quá trình thích ứng linh hoạt của các thế hệ cư dân qua dấu tích cư trú, loại hình canh tác và các kỹ thuật chế tác, nghề thủ công, phong tục, tập quán, địa bàn cư trú…
Những tôn giáo từ Ấn Độ xa xôi xuất hiện trên vùng đất Đồng Nai mà dấu tích còn lưu lại là các đền tháp, hệ thống tượng thờ: Rạch Đông, Cây Gáo, miễu Ông Chồn, Đạ Lắk… Hệ thống tượng thờ phát hiện ở Đồng Nai khá độc đáo, trong đó tượng thờ Vishnu chiếm tỷ lệ nhiều. Tượng Vishnu phát hiện ở Hóa An có niên đại từ thế kỷ VI-VII, được công nhận là bảo vật quốc gia (năm 2021). Một thời kỳ đầy xáo động giữa Chămpa với Chân Lạp trên vùng đất Đồng Nai phản ánh qua văn bia của bức tượng cổ bằng đá, phát hiện ở Biên Hòa (chùa Bửu Sơn) và một số tượng ở Bến Gỗ (phường Long Hưng), Tân Triều (phường Tân Triều).
Các tộc người Mạ, Chơro, S’tiêng, M’nông, Cơ Ho, Khmer sinh sống khá lâu đời trên địa bàn miền núi của Đồng Nai. Môi trường sống của họ có đặc điểm tương đồng trong hoạt động kinh tế, hình thành những nét chung trong đời sống kinh tế - xã hội và tinh thần. Kiến trúc nhà sàn mang tính đặc trưng của đời sống cư dân và hệ thống tri thức dân gian, văn hóa phi vật thể khá độc đáo. Từ tín ngưỡng dân gian đến lễ hội với những sinh hoạt phản ánh văn hóa tộc người đậm sắc màu. Những lễ nghi trong chu kỳ đời người và canh tác nông nghiệp mang dấu ấn tiêu biểu của các cư dân thiểu số tại chỗ được duy trì trong năm. Những loại hình văn hóa của các dân tộc thiểu số được vinh danh di sản quốc gia: Kỹ thuật chế biến rượu cần của người S’tiêng; Lễ hội Dua tpeng Phá bàu của người Khmer (năm 2019), Nghề dệt thổ cẩm của người M’nông (năm 2022), Nghề đan gùi của người S’tiêng (năm 2023), Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào S’tiêng (năm 2024); Lễ hội Cúng thần Lúa của người Chơro, Tập quán giã gạo chày tay của người S’tiêng và người M’nông (năm 2025)…
Từ thế kỷ XVII, dấu ấn văn hóa của người Việt, người Hoa từng bước định hình trên vùng đất Đồng Nai với nhiều lớp cư dân đến khai khẩn, tạo dựng. Nền hành chính được chúa Nguyễn thiết lập và đặt cơ sở cho nền tảng quản lý chính thức, tạo điều kiện cho vùng đất Đồng Nai nói riêng, Nam Bộ nói chung đi vào sự ổn định, phát triển.
Cùng với cư dân tại chỗ lâu đời, người Việt để lại những dấu ấn quan trọng trên vùng đất Đồng Nai không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả đời sống tinh thần. Những làng cư trú rộng mở trên các tiểu vùng địa lý, hình thành các làng nghề thủ công, hệ thống miếu, đình, chùa được xây dựng gắn với các điểm tụ cư đông dân. Người Hoa góp phần trong mở mang các điểm thị tứ, đẩy mạnh tính chất giao thương ở các khu vực giao thông thuận lợi. Dù có nhiều biến đổi, dấu tích cù lao Phố một thời vẫn còn vang danh là chốn đô hội của một thời kỳ dài phát triển ở Nam Bộ. Những làng nghề thủ công hiện nay vẫn còn duy trì ở mức độ khác nhau, đời sống, nghề gốm, chế tác đá… Những di sản của người Việt, người Hoa vẫn là mạch nguồn trong đời sống xã hội hiện nay qua nhiều biểu đạt của cư dân. Những giá trị di sản văn hóa phi vật thể được công nhận cấp quốc gia như: Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ (năm 2012), Lễ hội Miếu Bà Rá - Phước Long (năm 2019), Lễ hội Cầu bông của người Kinh (năm 2021), Lễ hội Chùa Ông cù lao Phố (năm 2023), Lễ giỗ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (năm 2025).
Quá trình sinh sống ở Đồng Nai, những thế hệ cư dân cùng nhau xây dựng cho vùng đất này phát triển, để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử đấu tranh hào hùng bảo vệ quê hương. Loại hình di tích đa dạng, phản ánh truyền thống lịch sử hào hùng và văn hóa sâu đậm. Đồng Nai có 119 di tích được Nhà nước xếp hạng; trong đó có 6 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 42 di tích cấp quốc gia và 72 di tích xếp hạng cấp tỉnh.
Văn hóa của Đồng Nai khá phong phú do nhiều yếu tố tác thành. Trong dòng chảy văn hóa của đất nước nói chung, của Nam Bộ nói riêng, văn hóa của Đồng Nai có một vị trí quan trọng bởi đây là vùng đất được xem là địa đầu trong quá trình khai khẩn Nam Bộ và quá trình lịch sử hào hùng của vùng “miền Đông gian lao mà anh dũng”. Cộng đồng cư dân qua các thời kỳ đã tạo nên bức tranh đa sắc màu về văn hóa và để lại những di sản độc đáo. Hiện nay, Đồng Nai là một địa bàn phát triển kinh tế năng động của đất nước. Quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đồng Nai đã, đang và sẽ làm cho địa bàn này thành vùng đất mở, thu hút nguồn nhân lực đến sinh sống, làm việc. Song hành với những lợi thế khác, di sản văn hóa cần được nhận diện trong định hướng phát triển, góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Phan Đình Dũng