Những thông tin trên được các chuyên gia nhấn mạnh tại chuỗi hội thảo khoa học với chủ đề "Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch" vừa diễn ra tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Sự kiện do Hội Ung thư Việt Nam và AstraZeneca Việt Nam phối hợp tổ chức, quy tụ các chuyên gia hàng đầu trong nước và quốc tế mang đến những tiến bộ mới nhất trong điều trị ung thư phổi, đồng thời giới thiệu các giải pháp điều trị mới được Bộ Y tế phê duyệt, mở ra thêm cơ hội tiếp cận các giải pháp tiên tiến cho bệnh nhân tại Việt Nam.
Các chuyên gia trao đổi tại hội thảo khoa học với chủ đề "Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch"
Gánh nặng ung thư phổi, phát hiện muộn, tiên lượng kém
Theo số liệu Globocan 2022, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 24.000 ca mắc mới và trên 22.000 ca tử vong do ung thư phổi.
TS.BS. Lê Tuấn Anh – Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, ung thư phổi hiện là một trong ba loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam, đứng thứ hai ở cả hai giới. Đáng lo ngại, đa số bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn.
"Tỉ lệ phát hiện giai đoạn sớm chỉ khoảng 10-14%, trong khi giai đoạn 4 chiếm tới 41%. Sự khác biệt về sống còn rất lớn, nếu phát hiện ở giai đoạn 1A có thể đạt tới 92%, còn ở giai đoạn 4B chỉ dưới 1%"- TS Tuấn Anh nhấn mạnh.
Đáng chú ý, ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú là thể bệnh tiến triển nhanh, dễ di căn và có tiên lượng xấu. Trong khi đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 không thể phẫu thuật chiếm khoảng 15–20% tổng số ca và là nhóm bệnh phức tạp, khó điều trị, gây gánh nặng kinh tế lớn, với tổng chi phí điều trị giai đoạn muộn (giai đoạn 3 và 4) tại Việt Nam năm 2020 ước tính hơn 684 tỷ đồng.
Dù hóa xạ trị (CRT) thường được sử dụng, tỷ lệ tái phát và di căn sau điều trị vẫn ở mức cao. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết đối với các giải pháp điều trị tiên tiến hơn.
PGS.TS Đỗ Hùng Kiên, Phó Giám đốc chuyên môn, Trưởng khoa Nội 1 - Bệnh viện K chia sẻ, tại Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư phổi vẫn được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, và việc điều trị duy trì sau hóa xạ trị còn nhiều hạn chế, dẫn đến tỷ lệ tái phát và di căn vẫn ở mức cao.
Bước ngoặt trong điều trị?
Theo thông tin tại hội thảo, các liệu pháp miễn dịch và nhắm trúng đích đang mở ra hướng tiếp cận mới trong điều trị ung thư phổi, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân không thể phẫu thuật.
Hai nghiên cứu nổi bật được giới thiệu tại hội thảo là ADRIATIC đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú và LAURA đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 có đột biến EGFR. Đây là những giải pháp điều trị duy trì sau hóa xạ trị, nhằm kéo dài thời gian kiểm soát bệnh và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.
Cụ thể, nghiên cứu ADRIATIC cho thấy khi áp dụng điều trị củng cố bằng Durvalumab sau hóa xạ trị, người bệnh có thể đạt thời gian sống trung vị lên tới gần 56 tháng so với 33,4 tháng ở nhóm không dùng thuốc, giúp giảm 27% nguy cơ tử vong.
"Sự chênh lệch là gần 23 tháng, tương đương với việc bệnh nhân có thêm gần 2 năm sống thêm nếu điều trị bằng Durvalumab"- PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thái Hòa – Trưởng khoa Nội 2, Bệnh viện K nói và thông tin thêm: Ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển rất nhanh, di căn rầm rộ. Dù mục tiêu điều trị là triệt căn nhưng kết quả còn hạn chế, sống còn 5 năm chỉ đạt khoảng 30% trong thử nghiệm và 15% trong thực tế.
Chính vì vậy, việc bổ sung liệu pháp miễn dịch sau hóa xạ trị được xem là chìa khóa cải thiện kết quả điều trị. "Điều trị củng cố bằng Durvalumab đã cải thiện có ý nghĩa cả về thời gian sống thêm không tiến triển và sống còn toàn bộ, đồng thời bệnh nhân dung nạp tốt"- PGS.TS Thái Hòa nói.
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thái Hòa chia sẻ về những cập nhật trong chiến lược điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú với liệu pháp miễn dịch.
Không chỉ kéo dài thời gian sống, liệu pháp này còn giúp giảm tỷ lệ di căn não và tiến triển ngoài lồng ngực, vốn là những biến chứng thường gặp và nguy hiểm.
Song song đó, nghiên cứu LAURA trên ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 có đột biến EGFR cũng cho thấy hiệu quả ấn tượng. Điều trị bằng Osimertinib giúp kéo dài thời gian không tiến triển lên 39,1 tháng, so với 5,6 tháng ở nhóm giả dược, đồng thời giảm nguy cơ di căn lên hệ thần kinh trung ương.
Nhìn chung, các kết quả này cho thấy tiềm năng của chiến lược điều trị củng cố sau hóa xạ trị trong việc giúp người bệnh kiểm soát bệnh lâu hơn và cải thiện chất lượng sống.
Vai trò phối hợp đa chuyên khoa
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên, trong thực hành, việc lựa chọn đúng bệnh nhân và triển khai điều trị duy trì kịp thời có thể giúp cải thiện đáng kể tiên lượng sống còn.
"Đặc biệt, việc xét nghiệm đột biến EGFR từ sớm và chuẩn hóa lộ trình điều trị ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp không bỏ lỡ 'cửa sổ vàng' cho điều trị. Để triển khai hiệu quả trong thời gian tới, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa, tăng cường năng lực xét nghiệm và xây dựng các mô hình theo dõi bệnh nhân phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam"- PGS.TS Đỗ Hùng Kiên nói.
Cùng đó, các chuyên gia nhấn mạnh, hiệu quả của các liệu pháp hiện đại phụ thuộc rất lớn vào thời điểm can thiệp.
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thái Hòa phân tích, nếu bệnh nhân ở giai đoạn 4, miễn dịch chỉ cải thiện được khoảng 2 tháng sống thêm. Nhưng ở giai đoạn 3, có thể cải thiện tới 2 năm. Điều này cho thấy việc chẩn đoán sớm và điều trị sớm là yếu tố quyết định.
Bác sĩ Hòa cũng lưu ý, việc triển khai điều trị miễn dịch cần được thực hiện sớm sau hóa xạ trị, bởi nếu bắt đầu điều trị miễn dịch muộn sau 28 ngày, hiệu quả sẽ không còn rõ rệt.
Trong khi đó, TS.BS. Lê Tuấn Anh nhấn mạnh vai trò của mô hình hội chẩn đa chuyên khoa (MDT). "Để đưa ra giải pháp tốt nhất cho bệnh nhân, vai trò của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, nội khoa, ngoại khoa và xạ trị là quan trọng. Hiện nay, thế giới đã đưa trí tuệ nhân tạo vào để hỗ trợ hội đồng MDT đưa ra phác đồ tối ưu"- TS Tuấn Anh nói.
TS.BS. Lê Tuấn Anh chia sẻ về vai trò của mô hình hội chẩn đa chuyên khoa (MDT).
Theo PGS.TS Tuấn Anh, MDT không chỉ giúp lựa chọn phác đồ phù hợp mà còn tạo điều kiện tiếp cận các phương pháp điều trị mới. Việc áp dụng các liệu pháp tân hỗ trợ và miễn dịch đã giúp nhiều trường hợp trước đây không thể phẫu thuật nay có cơ hội điều trị hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cùng với các giải pháp này, BS Tuấn Anh cũng nhấn mạnh đến việc cần tăng cường công tác tầm soát sớm để thay đổi tiên lượng bệnh.
Cùng đó, các chuyên gia cũng nhấn mạnh đến việc chuẩn hóa quy trình chẩn đoán và đảm bảo khả năng tiếp cận thuốc cho người bệnh.
Những dấu hiệu không nên bỏ qua
Ung thư phổi thường tiến triển âm thầm, dễ bị nhầm với bệnh hô hấp thông thường. Người dân cần đặc biệt lưu ý khi có các biểu hiện sau:
Ho kéo dài, ho dai dẳng trên 2–3 tuần không khỏi
Ho ra máu (dù chỉ một lượng nhỏ)
Đau tức ngực, đau tăng khi ho hoặc hít sâu
Khó thở, thở khò khè
Sụt cân nhanh, không rõ nguyên nhân
Mệt mỏi kéo dài, chán ăn
Khàn tiếng kéo dài
Viêm phổi tái phát nhiều lần
Bài và ảnh Thái Bình