Thực tế đó cho thấy phương thức khai thác truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập; yêu cầu chuyển sang khai thác có trách nhiệm, gắn với phát triển bền vững và chủ động hội nhập quốc tế đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Khi biển không còn hào phóng
Theo điều tra của các nhà khoa học, ngư trường Cà Mau có trữ lượng thủy sản lớn, đa dạng với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, cá mú, cá bớp…
Riêng vùng biển Tây của tỉnh đã xác định gần 240 loài cá thuộc 137 giống và 82 họ, tập trung chủ yếu ở các vùng biển có độ sâu từ 30-100 m. Tổng trữ lượng hải sản ước khoảng 478.680 tấn, khả năng khai thác khoảng 223.000 tấn/năm.
Tình trạng tàu, thuyền nằm bờ do chi phí khai thác tăng cao, nguồn lợi thủy sản suy giảm đang diễn ra tại nhiều cửa biển ở Cà Mau.
Tuy nhiên, kết quả điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản định kỳ của ngành Nông nghiệp và Môi trường cho thấy nguồn lợi biển của tỉnh đang suy giảm mạnh. Tỷ lệ cá tạp trong các mẻ lưới hiện chiếm tới 30- 40%, nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ngày càng khan hiếm. Điều đó cho thấy việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang trở thành vấn đề cấp thiết, mang tính sống còn đối với hàng ngàn lao động mưu sinh từ biển.
Gắn bó với nghề biển qua ba thế hệ, ngư dân Trương Minh Nhãn, phường Hiệp Thành (khu vực biển Nhà Mát), chia sẻ: “Chưa bao giờ làm nghề biển khó như bây giờ. Khoảng 5 năm trở lại đây, sản lượng đánh bắt giảm mạnh, có chuyến lỗ cả tiền dầu vì chủ yếu chỉ bắt được cá tạp. Biển đã không còn hào phóng như xưa”.
Cùng chung nỗi lo, ngư dân Lý Văn Hiếu (Ấp 2, xã Khánh Lâm) cho biết: “Trước đây đi biển có thể trúng đậm, còn nay sản lượng ít hơn nhưng chi phí lại tăng cao, nhiều chuyến chỉ huề vốn”.
Không chỉ chịu áp lực từ nguồn lợi suy giảm, ngành khai thác thủy sản còn đối mặt với nhiều rào cản từ thị trường quốc tế như các tiêu chuẩn kỹ thuật, thuế chống bán phá giá hay nguy cơ áp thuế đối ứng tại thị trường Mỹ.
Đặc biệt, “thẻ vàng” IUU của EU chưa được gỡ bỏ đã làm gia tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian thông quan và ảnh hưởng đến uy tín thủy sản Cà Mau trên thị trường quốc tế.
Việc thực hiện các quy định IUU không chỉ là yêu cầu hội nhập mà còn là điều kiện để ngành thủy sản phát triển minh bạch, bền vững hơn. Công tác quản lý đội tàu, giám sát hành trình và truy xuất nguồn gốc đang được triển khai đồng bộ, nhưng để thay đổi tập quán khai thác của ngư dân cần thêm thời gian và giải pháp hỗ trợ phù hợp.
Ông Phạm Văn Mười,
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, cho biết.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển và rác thải nhựa cũng đang tác động trực tiếp đến hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản. Đáng lo ngại là tại nhiều địa phương ven biển vẫn tồn tại tình trạng khai thác tận diệt gần bờ bằng các nghề như: cào, te, lưới thẹ, đặt bát quái… với kiểu khai thác “lớn không bỏ, nhỏ không tha”, gây lãng phí tài nguyên biển ở mức báo động. Thực tế đã thấy, nhưng việc xử lý không dễ bởi đây vẫn là sinh kế gắn chặt với tập quán mưu sinh của nhiều ngư dân ven biển.
Tình trạng khai thác, mua bán sò, nghêu giống khiến nguồn lợi thủy sản cạn kiệt dần. (Ảnh chụp tại xã Vĩnh Hậu).
Chuyển từ khai thác sang nuôi biển
Một trong những chuyển biến nổi bật của Cà Mau thời gian qua là công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) được triển khai quyết liệt. Tỉnh đã hoàn thành cập nhật dữ liệu tàu cá lên hệ thống quản lý quốc gia, chấm dứt tình trạng tàu “3 không”; tỷ lệ tàu cá lắp đặt thiết bị giám sát hành trình đạt mức cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá.
Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ ngư dân được triển khai kịp thời. Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã hỗ trợ chi phí thiết bị và cước thuê bao giám sát hành trình, giúp giảm gánh nặng tài chính cho ngư dân, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành quy định trong khai thác thủy sản.
Người dân tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi từ biển để phát triển mô hình nuôi cá lồng bè (cá bóp, cá mú) tại khu vực Hòn Đá Bạc (xã Đá Bạc).
Bà Trần Hồng Ửng, Chủ tịch UBND xã Khánh Lâm, cho biết: “Trước đây nhiều ngư dân còn e ngại chi phí nên chưa duy trì thiết bị giám sát thường xuyên. Khi được hỗ trợ, bà con chấp hành tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá”.
Song song với siết chặt quản lý, Cà Mau cũng từng bước định hướng chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng và nâng cao giá trị gia tăng. Hiện toàn tỉnh duy trì khoảng 450.000 ha nuôi thủy sản với các mô hình sinh thái như tôm - rừng, tôm - lúa được xem là hướng phát triển bền vững.
Đáng chú ý, nhiều mô hình nuôi biển đã bắt đầu hình thành và phát huy hiệu quả như nuôi cá mú, cá bớp tại vùng biển Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc; nuôi hàu lồng, sò huyết ở các tuyến sông, kênh thủy lợi gần cửa biển; hay nuôi nghêu tại các bãi bồi ven biển. Những mô hình này không chỉ khai thác hiệu quả lợi thế tự nhiên mà còn đa dạng hóa sinh kế cho người dân ven biển.
Ông Huỳnh Tấn Kiệt, Giám đốc Hợp tác xã Quyết Tâm (ấp Kinh Hòn Bắc, xã Đá Bạc), chia sẻ: “Sau hơn 4 tháng thả nuôi, cá bớp, cá mú phát triển khá tốt và ít xảy ra dịch bệnh. Nghề nuôi cá lồng bè rất giàu tiềm năng, có thể trở thành hướng đi bền vững trong bối cảnh nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm. Tuy nhiên, để phát triển hiệu quả, người dân rất cần nguồn vốn ưu đãi để đầu tư lồng bè và yên tâm bám biển”.
Mô hình nuôi nghêu trên bãi bồi của Hợp tác xã Đồng Tiến (xã Hòa Bình) là hướng đi bền vững cho phát triển kinh tế biển.
Thực tế cho thấy, các mô hình nuôi biển không chỉ phù hợp điều kiện tự nhiên mà còn góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập cho người dân. Quan trọng hơn, nếu được phát triển theo hướng hợp tác xã, tổ hợp tác bài bản sẽ mở ra cơ hội chuyển đổi sinh kế cho ngư dân, gắn phát triển kinh tế biển với an sinh xã hội và du lịch sinh thái.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 48 về Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược hướng đến mục tiêu khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy các giá trị di sản thiên nhiên, văn hóa biển.
Có thể thấy, hành trình chuyển từ tư duy “khai thác” sang “phát triển bền vững” không dễ dàng, nhưng là con đường tất yếu. Chỉ khi nguồn lợi được bảo vệ, sản xuất được quản lý chặt chẽ, giá trị gia tăng được nâng cao và sinh kế người dân được giải quyết căn cơ thì ngành thủy sản mới có thể phát triển ổn định, lâu dài. Biển không vô tận, và chỉ bền vững khi con người biết khai thác có trách nhiệm, hài hòa giữa lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường để “lộc biển” tiếp tục được gìn giữ cho các thế hệ mai sau.
Hồng Phượng - Kim Trung - Hữu Thọ - Hoàng Lam