Lộ trình triển khai xăng sinh học E10 trên toàn quốc từ ngày 1-6-2026 bên cạnh việc góp phần giảm phụ thuộc xăng khoáng và bảo vệ môi trường, còn được kỳ vọng giúp ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nông dân trồng sắn và mía, đảm bảo đầu ra cùng thu nhập ổn định.
Tuy nhiên, để xây dựng một hệ sinh thái cung ứng ethanol bền vững, Nhà nước cần có chiến lược đầu tư bài bản.
Có thể tăng giá trị chuỗi nông nghiệp
Theo Bộ Công Thương, nhu cầu tiêu thụ xăng bình quân của Việt Nam khoảng 1 triệu m³/tháng. Nếu triển khai theo cơ cấu khoảng 15% E5 và 85% E10, nhu cầu ethanol nhiên liệu cần khoảng 92.000 đến 100.000 m³/tháng.
Năng lực sản xuất ethanol trong nước hiện có gồm các nhà máy tại Đồng Nai, TP Đà Nẵng, Đăk Tô, Dung Quất và một số nhà máy đang trong quá trình phục hồi. Sản lượng thực tế trong nước dự kiến đạt khoảng 25.000 m³/tháng.
Khi các nhà máy nâng công suất và phục hồi sản xuất, tổng sản lượng có thể đạt khoảng 44.000 m³/tháng. Trong ngắn hạn, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu khoảng 75.000 m³ ethanol/tháng để đáp ứng nhu cầu phối trộn E5 và E10. Nhìn chung, hiện Việt Nam có sáu nhà máy sản xuất ethanol với tổng công suất thiết kế khoảng 600.000 m³/năm. Nếu vận hành 100% công suất, lượng này chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu pha chế xăng E10, tương đương 1,5 triệu m³ ethanol/năm.
Báo cáo nhanh về tác động của xăng E10 tới thị trường của Công ty Cổ phần Chứng khoán VietinBank cho biết việc sử dụng xăng E10 mang lại lợi ích kinh tế lớn. Việc này giúp giảm phụ thuộc vào xăng khoáng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia ước tính từ 5.000 đến 7.000 tỉ đồng/năm.
Bên cạnh đó, xăng E10 thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển ngành ethanol từ nông nghiệp tạo giá trị gia tăng nội địa và việc làm cho 40.000 đến 50.000 lao động. Xăng E10 còn giúp mở rộng đầu ra ổn định cho các nguyên liệu như sắn, mía, ngô, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân. Điều này giúp tăng giá trị chuỗi nông nghiệp tương đương 10.000 tỉ đồng/năm.
Tại Việt Nam, khi triển khai trên toàn quốc, nhu cầu xăng E10 ước tính đạt 6-8 tỉ lít/năm. Nhu cầu ethanol dùng để pha chế xăng E10 từ 1,5 đến 2 triệu m³/năm.
Theo hệ số chuyển đổi trung bình, một tấn mía sản xuất ra 100 lít ethanol; một tấn ngô tương đương 400 lít ethanol; một tấn sắn cho ra 350 lít ethanol. Theo đó, đối với mía đường ước cần 14 đến 20 triệu tấn/năm, sắn cần từ 4 đến 5,5 triệu tấn/năm, ngô từ 5 đến 7,5 triệu tấn/năm, phụ phẩm nông nghiệp từ 10 đến 15 triệu tấn/năm.
Công ty cổ phần chứng khoán VietinBank
Sử dụng xăng E10 giúp giảm nhập khẩu xăng khoáng, tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia từ 5.000 đến 7.000 tỉ đồng/năm.
Nông dân trồng sắn, mía vẫn chưa cung ứng cho nhà máy sản xuất ethanol
Tuy nhiên, bên cạnh nhiều lợi ích, theo phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán VietinBank, việc triển khai xăng E10 tại Việt Nam sẽ gặp một số thách thức do nguồn cung ethanol trong nước hạn chế.
Sản lượng ethanol nội địa còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phối trộn E10. Việc phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu dễ rủi ro về giá và nguồn cung. Các cơ chế ưu đãi, thuế, tín dụng xanh cho sản xuất ethanol cũng chưa đủ mạnh. Phần lớn ethanol trong nước hiện được sản xuất từ sắn, một loại nguyên liệu có trữ lượng hạn chế và hiệu suất thấp, khiến chi phí sản xuất tăng cao. Mặt khác, nguồn nguyên liệu sắn, mía, ngô sẽ cạnh tranh với mục tiêu an ninh lương thực và xuất khẩu. Biến động giá nông sản ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất ethanol.
Ở vai trò doanh nghiệp, ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết việc triển khai xăng sinh học E10 được kỳ vọng sẽ kích cầu thêm cho thị trường sắn. Điều này tạo ra một không gian cầu tốt hơn để thúc đẩy ngành sắn phát triển với mục tiêu cuối cùng là mang lại lợi ích cho người nông dân. Khi nhu cầu ethanol phát triển, nhu cầu mua sắn để sản xuất ethanol tăng lên sẽ kích cầu thị trường, giúp đầu ra cho bà con nông dân ổn định và sinh lời.
Tuy nhiên hiện nay, nguồn nguyên liệu sắn trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 60% đến 70% công suất chế biến của các nhà máy tại Việt Nam. Nếu tới đây nhu cầu cung cấp sắn để sản xuất ethanol tăng cao, các nhà máy chế biến tinh bột sắn truyền thống có thể sẽ phải giảm công suất do nguồn nguyên liệu dịch chuyển sang công nghệ mới.
Về vùng trồng, diện tích khả năng mở rộng không còn nhiều. Chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là giữ nguyên, ổn định diện tích canh tác sắn. Thực tế, một phần diện tích sắn cũng đang bị dịch chuyển sang các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn, khiến diện tích sắn có xu hướng thu nhỏ lại.
Theo ông Tiến, chiến lược đặt ra cho ngành sắn và người trồng sắn hiện nay là phải tìm giải pháp nâng cao năng suất trong điều kiện diện tích đất đai hữu hạn. Giải pháp cốt lõi ở đây chính là ứng dụng công nghệ, tìm kiếm các loại giống mới có năng suất cao và thay đổi tập quán canh tác. Đồng thời, ngành cần gắn kết chặt chẽ hơn giữa người trồng sắn và các nhà máy chế biến để tạo trục tương tác, nâng cao năng suất.
"Đây là mục tiêu cao nhất mà toàn ngành phấn đấu nhằm tạo ra giá trị đầu ra tốt nhất để tác động ngược lại giá mua cho bà con nông dân. Từ đó, giúp người trồng sắn có lợi nhuận ổn định và tập trung vào cây sắn", ông Tiến nói.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho biết từ khi Việt Nam triển khai xăng E5, ngành mía đường đã không tham gia. Nguyên nhân do việc sản xuất ethanol từ mật rỉ - một phụ phẩm của ngành mía đường - không khả thi về mặt kinh tế.
Đến thời điểm này khi xăng E10 phủ sóng cả nước, ngành mía đường có thể tham gia cung ứng về mặt kỹ thuật. Các doanh nghiệp trong ngành có khả năng sản xuất ethanol trực tiếp từ mía hoặc từ các phụ phẩm. Tuy nhiên, chi phí nguyên liệu hiện chiếm đến 60% giá thành sản xuất. Nếu giá bán ethanol quá thấp sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế, lặp lại bài học từng xảy ra với chương trình xăng E5 trước đây.
Theo chia sẻ của một số đơn vị ngành nông nghiệp, mặc dù chủ trương phát triển xăng sinh học là đúng đắn nhưng diễn biến thực tế vẫn phụ thuộc vào quy luật thị trường. Nếu giá thành ethanol sản xuất từ sắn trong nước cao hơn hàng nhập khẩu, làm giảm nhu cầu tiêu thụ ethanol nội địa sẽ tác động trực tiếp đến nhu cầu sắn nguyên liệu.
Mặt khác, người trồng sắn hiện vẫn chưa biết mức giá thu mua sắn tươi của các nhà máy sản xuất ethanol sẽ ở mức nào nên thiếu cơ sở so sánh hiệu quả kinh tế với việc sản xuất sắn phục vụ chế biến tinh bột xuất khẩu.
Người dân đang đổ xăng E10.
Cần quy hoạch rõ ràng vùng trồng và đầu tư bài bản
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhấn mạnh: "Chúng ta phải có chiến lược thay thế nhập khẩu rõ ràng và chấp nhận đầu tư ban đầu. Nếu chỉ vì lý do mua của nước ngoài rẻ hơn mà phụ thuộc hoàn toàn thì nền kinh tế sẽ lập tức chịu tổn thương khi xảy ra đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu".
Theo PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, đối với một ngành công nghiệp non trẻ như sản xuất nhiên liệu sinh học, Nhà nước cần ban hành các cơ chế trợ giá ban đầu cho nông dân. Chính sách này đóng vai trò kích hoạt nhu cầu, tạo động lực để người dân yên tâm đầu tư, trồng trọt. Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế thu mua theo hợp đồng kinh tế rõ ràng, đi kèm với việc ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt để kiểm tra, giám sát chất lượng nông sản đầu vào. Việc kết hợp giữa khoa học công nghệ, chính sách tài chính và đào tạo sẽ tạo nên một hệ sinh thái bền vững cho xăng sinh học.
Ông Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho rằng thực tế giá thành sản xuất ethanol từ sản phẩm nông nghiệp tại các quốc gia châu Á đều cao hơn giá ethanol nhập khẩu. Do đó, tất cả các quốc gia sản xuất mía đường tại châu Á tham gia chương trình ethanol như Ấn Độ, Thái Lan, Philippines đều có bộ chính sách hỗ trợ để người nông dân và ngành mía đường tham gia được.
Theo phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán VietinBank, để vượt qua các thách thức và tạo nền tảng cho chuyển dịch năng lượng bền vững, Việt Nam cần phát triển nguồn cung ethanol nội địa và đầu tư nhà máy quy mô lớn; đa dạng hóa nguồn nguyên liệu sắn, mía, ngô và phụ phẩm nông nghiệp. Song song đó, cần có cơ chế chính sách hỗ trợ mạnh mẽ như ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai, đồng thời áp giá nhiên liệu sinh học hài hòa để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng.
Nhiều chuyên gia cho rằng các quốc gia khi phát triển xăng sinh học đều hướng tới mục tiêu kép: vừa mang lại lợi ích giảm phát thải, bảo vệ môi trường, vừa tạo lợi ích kinh tế cho nông dân. Đối với người nông dân, điều họ cần nhất chính là nguồn thu nhập ổn định để duy trì sản xuất. Nếu Nhà nước chỉ ưu tiên lợi ích môi trường mà mong muốn giá thành nguyên liệu quá rẻ, người nông dân sẽ không có lợi nhuận. Nếu giá nông sản như sắn, mía quá thấp, người nông dân không thể đảm bảo cuộc sống, dẫn đến việc thu hẹp diện tích trồng, gây thiếu nguyên liệu cung ứng cho sản xuất.
Thực tế hiện nay, để phục vụ nhu cầu phối trộn xăng E10, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu ethanol. Do đó, bài toán tự chủ nguồn nguyên liệu nhằm giúp ngành nông nghiệp trong nước phát triển là điều cần phải xem xét kỹ lưỡng. Muốn tự chủ nguồn cung ethanol và "đi trên chính đôi chân của mình", bắt buộc phải có chiến lược đầu tư bài bản, dài hạn cùng các cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay là phải có quy hoạch vùng nguyên liệu đủ lớn. Chúng ta nên tiến hành điều tra cơ bản trước để vạch ra các vùng trồng sắn tốt như ở Tây Nguyên, hoặc vùng trồng ngô ở các khu vực trung du, đồi núi phía Bắc. Thậm chí, chúng ta có thể kết nối với các dự án lớn như chương trình 1 triệu hecta lúa phát thải thấp ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nếu tận dụng được nguồn rơm rạ từ dự án này để sản xuất ethanol thì sẽ tạo ra một chuỗi liên kết kinh tế cực kỳ giá trị.
Bên cạnh việc quy hoạch vùng, Việt Nam phải làm chủ được công nghệ chế biến quy mô lớn để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Đây là cơ hội rất tốt để ngành nông nghiệp Việt Nam bứt phá, chuyển mình phục vụ cho sản xuất công nghiệp và nâng cao tính tự chủ cho nền kinh tế.
PGS TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Theo TS Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), việc nhập khẩu ethanol chỉ là giải pháp trước mắt, về lâu dài Việt Nam cần phát triển sản xuất E100 trong nước để tự chủ nguồn cung. Để phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học nói chung, cần có một kế hoạch tổng thể từ quy hoạch, phát triển vùng nguyên liệu, hệ thống các nhà máy sản xuất E100 đến hạ tầng lưu chứa, logistics...
Khi nhu cầu E100 không ngừng tăng, Bộ Công Thương sẽ cùng các bộ, ngành và đơn vị liên quan triển khai các giải pháp đồng bộ từ xây dựng chính sách đến khuyến khích đầu tư nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của ngành.
TÚ UYÊN