Các kỳ Đại hội của Đảng: Đại hội lần thứ I và Đại hội lần thứ II

Các kỳ Đại hội của Đảng: Đại hội lần thứ I và Đại hội lần thứ II
3 giờ trướcBài gốc
Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 13 kỳ đại hội. Mỗi kỳ đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận, đánh dấu những thắng lợi, thành tựu và những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngày 6-1-1946, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên trên khắp cả nước đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội lần đầu tiên, đánh dấu sự khai sinh Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ II bầu ra. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Theo daihoidang.vn, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng, họp từ ngày 27 ngày đến 31-3-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) với 13 đại biểu đại diện cho 600 đảng viên.
Đại hội lần thứ I của Đảng: Chống đế quốc, chống chiến tranh
Đại hội lần thứ I của Đảng đánh giá tình hình thế giới và trong nước, nêu bật những thành công của Liên Xô và phong trào cách mạng của nhân dân lao động nhiều nước trên thế giới, khẳng định chủ nghĩa xã hội là tất yếu lịch sử.
Đại hội nhận định hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục và phong trào cách mạng có tiến triển. Các cuộc đấu tranh của quần chúng trong hai năm qua đều giành được thắng lợi ở mức độ khác nhau.
Đại hội nêu 3 nhiệm vụ chủ yếu của Đảng trong thời gian trước mắt: Củng cố và phát triển Đảng; Thu phục quảng đại quần chúng; Chống chiến tranh đế quốc.
Lần đầu tiên, Đại hội đã ra một loạt các Nghị quyết hết sức quan trọng để tập hợp lực lượng, xây dựng phong trào quần chúng: Nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, phụ nữ, thanh niên; về công tác liên minh phản đế; về công tác trong các dân tộc thiểu số; về đội tự vệ và cứu tế đỏ.
Đại hội thông qua Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng của Đảng.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng ở Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 7-1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư của Đảng.
Tháng 3-1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư.
Tháng 5-1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Pác Bó (Cao Bằng) đã bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Đại hội lần thứ I của Đảng là dấu mốc lịch sử quan trọng, được tổ chức sau 5 năm tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản (từ 6-1 đến 7-2-1930), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ và khôi phục hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương, thống nhất được phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, tạo điều kiện để phong trào cách mạng bước vào thời kỳ đấu tranh mới.
Đại hội lần thứ II của Đảng: Kháng chiến, kiến quốc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, họp từ ngày 11 đến 19-2-1951, tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), tỉnh Tuyên Quang. Về dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức, đại diện cho 766.349 đảng viên đang sinh hoạt trong Đảng bộ toàn Đông Dương.
Căn cứ vào thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ tổ chức kháng chiến của ba dân tộc Đông Dương, Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một đảng riêng biệt có cương lĩnh phù hợp với đặc điểm mỗi nước.
Ở Việt Nam, Đại hội quyết định thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đã nghiên cứu, thảo luận Báo cáo chính trị, Báo cáo bàn về cách mạng Việt Nam, Báo cáo về tổ chức và Điều lệ của Đảng, các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính, văn nghệ nhân dân.
Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), tỉnh Tuyên Quang. Ảnh tư liệu TTXVN
Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tổng kết những kinh nghiệm phong phú của Đảng trong hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng, vạch ra những phương hướng, nhiệm vụ đưa cuộc kháng chiến thắng lợi hoàn toàn. Báo cáo khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập thống nhất, dân chủ của Đảng là đúng đắn, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhất định thắng lợi.
Báo cáo nêu hai nhiệm vụ chính của Đảng lúc này là: Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam; Đại hội tổng kết quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp và hoàn thiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Đảng. Đại hội quyết định sẽ thành lập những tổ chức cách mạng phù hợp hoàn cảnh Lào và Campuchia. Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ các tổ chức cách mạng Lào và Campuchia lãnh đạo kháng chiến của hai dân tộc ấy giành thắng lợi cuối cùng.
Ban Chấp hành Trung ương của Đảng do Đại hội bầu ra gồm 29 đồng chí. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng.
Bộ Chính trị do Trung ương bầu gồm 7 Ủy viên chính thức: Đồng chí Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, một Ủy viên dự khuyết là đồng chí Lê Văn Lương. Đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.
Văn Duẩn
Nguồn NLĐ : https://nld.com.vn/cac-ky-dai-hoi-cua-dang-dai-hoi-lan-thu-i-va-dai-hoi-lan-thu-ii-196260112171017426.htm