Dòng năng lượng qua eo biển Hormuz bị gián đoạn
Hôm 5-3, trong cuộc phỏng vấn với Đài NBC, Ngoại trưởng Iran Araghchi cho biết, nước này không có ý định đóng cửa eo biển Hormuz mang tính chiến lược như những đồn đoán trước đó của truyền thông. Ông Araghchi cho biết: “Khi chiến sự tiếp diễn, chúng tôi sẽ cân nhắc mọi kịch bản”. Phái bộ của Iran tại Liên hợp quốc (LHQ) cũng đã bác bỏ thông tin cho rằng, Tehran đóng cửa Eo biển Hormuz, gọi cáo buộc này là “vô căn cứ và phi lý”.
Trong một bài đăng trên mạng xã hội X, phái bộ Iran tại LHQ khẳng định nước này vẫn tuân thủ luật pháp quốc tế và nguyên tắc tự do hàng hải. Tuy nhiên, mối lo “bom rơi, đạn lạc” khi di chuyển qua eo biển Hormuz trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran tiếp tục leo thang, cùng khả năng Iran bất cứ lúc nào cũng có thể đóng cửa eo biển này đã khiến thông thương qua Hormuz suy giảm mạnh. Công ty nghiên cứu thị trường năng lượng Kpler cho biết, lưu lượng tàu chở dầu qua eo biển Hormuz đã sụt giảm 90% kể từ khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự nhằm vào Iran.
Tuyến đường vận chuyển dầu khí qua eo biển Hormuz đã bị gián đoạn
Nhiều công ty bảo hiểm hàng hải như Gard, Skuld, NorthStandard, London P&I Club và American Club đã thông báo hủy bảo hiểm rủi ro chiến tranh với tàu thuyền từ ngày 5-3. Việc này đồng nghĩa các hãng vận tải có tàu hoạt động tại Trung Đông sẽ phải tìm bảo hiểm mới với mức phí cao hơn. Ông David Smith, Giám đốc bộ phận hàng hải tại hãng môi giới bảo hiểm McGill and Partners, cho biết: “Do tình hình diễn biến nhanh, các hãng đều tăng phí, thậm chí từ chối bảo hiểm cho tàu đi qua eo biển Hormuz hiện tại”. Phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh đã chạm mốc 1% giá trị tàu chỉ sau vài ngày, tăng mạnh so với mức 0,2% tuần trước. Việc này khiến chi phí mỗi chuyến hàng tăng thêm vài trăm nghìn USD. Chi phí vận chuyển dầu từ Trung Đông sang châu Á, vốn ở mức cao nhất 6 năm, dự kiến tiếp tục tăng mạnh khi chiến sự lan rộng. Ông Munro Anderson, chuyên gia tại công ty bảo hiểm chiến tranh hàng hải Vessel Protect, nhận định: “Eo biển Hormuz gần như bị đóng cửa chủ yếu do lo ngại sau những lời đe dọa hơn là một cuộc phong tỏa cụ thể”.
Tình trạng bất ổn trên khiến các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ Trung Đông rơi vào thế kẹt. Phần lớn xuất khẩu dầu lửa của 6 nhà sản xuất trong khu vực Trung Đông gồm Saudi Arabia, Bahrain, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE),Kuwait, Qatar và Oman đều đi qua tuyến eo biển Hormuz. Trên thị trường khí đốt, 1/5 khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) trên toàn cầu là do các quốc gia Vùng Vịnh cung cấp và đều phải đi qua eo biển Hormuz. Qatar - một trong những nước xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới, cũng vận chuyển gần như toàn bộ sản phẩm của mình qua tuyến đường này.
Cú sốc dầu lửa và khí đốt lan rộng toàn cầu
Theo dữ liệu từ Kpler, năm ngoái, hơn 14 triệu thùng dầu thô mỗi ngày chảy qua eo biển Hormuz, tương đương 1/3 tổng xuất khẩu nhiên liệu bằng đường biển của thế giới. Vì thế, bất ổn liên quan đến Hormuz đã khiến giá dầu thô thế giới tăng mạnh. Trong vòng một tuần qua, giá dầu thô thế giới đã tăng gần 15%. Chỉ riêng trong phiên 3-3, dầu Brent đã đắt thêm 4,7%, lên tới 81 USD một thùng - mức cao nhất kể từ tháng 1-2025. Nhiều nhà phân tích cảnh báo xung đột tại Trung Đông lan rộng sẽ kéo giá Brent lên trên 100 USD.
Là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, việc đóng cửa Hormuz sẽ là phép thử với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Theo ước tính của Ngân hàng tư nhân và quản lý tài sản hàng đầu tại Thụy Sĩ (UBP), khoảng 40% dầu nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Hormuz. Cùng với đó, khoảng 30% LNG nhập khẩu của nước này đến từ Qatar và UAE. Còn theo Kpler, Trung Đông là nguồn cung cấp 57% lượng dầu thô nhập khẩu trực tiếp bằng đường biển của Trung Quốc trong năm 2025.
Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung năng lượng, Trung Quốc đã yêu cầu các nhà máy lọc dầu lớn nhất nước này tạm dừng xuất khẩu diesel và xăng. Các quan chức từ Ủy ban Phát triển và cải cách quốc gia, cơ quan hoạch định kinh tế hàng đầu của Trung Quốc, đã gặp gỡ đại diện các nhà máy lọc dầu và kêu gọi tạm dừng xuất khẩu các sản phẩm lọc dầu ngay lập tức. Thậm chí, các nhà máy lọc dầu còn nhận được yêu cầu ngừng ký kết các hợp đồng mới và đàm phán hủy bỏ các lô hàng đã được thỏa thuận trước đó.
Các nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng dễ chịu tác động từ cú sốc nguồn cung, bởi Trung Đông hiện cung cấp 75% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản và khoảng 70% của Hàn Quốc. Về LNG, Hàn Quốc nhập 14% LNG từ Qatar và UAE, trong khi Nhật Bản nhập 6%. Tồn kho của các nước này lại hạn chế. Hàn Quốc hiện chỉ dự trữ khoảng 3,5 triệu tấn LNG và Nhật Bản khoảng 4,4 triệu tấn, đủ đáp ứng khoảng 2-4 tuần nếu nhu cầu ổn định. Tuy nhiên, ngay cả khi không thiếu hụt ngay lập tức, tác động về giá vẫn có thể nghiêm trọng với hai nền kinh tế này. Tại Hàn Quốc, Tổng thống Lee Jae Myung đã chỉ trích việc giá xăng bán lẻ trong nước tăng nhanh bất thường và cho rằng có dấu hiệu một số cơ sở kinh doanh lợi dụng tình hình để tăng giá. Chính phủ Hàn Quốc đang xem xét khả năng áp trần giá xăng tại các trạm bán lẻ nếu cần thiết nhằm ngăn chặn tình trạng tăng giá đột biến. Bên cạnh đó, Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc đã kích hoạt hệ thống cảnh báo an ninh tài nguyên đối với dầu mỏ và khí đốt, đồng thời chuẩn bị phương án xuất kho dự trữ dầu chiến lược và tăng cường giám sát thị trường phân phối nhiên liệu.
Với Đông Nam Á, phần lớn các nước trong khu vực chịu tác động đầu tiên là lạm phát chi phí thay vì thiếu hụt tức thì. Người mua LNG giao ngay sẽ đối mặt chi phí thay thế tăng mạnh khi châu Á phải cạnh tranh với châu Âu để giành nguồn hàng từ Đại Tây Dương. Theo đánh giá của Tập đoàn bất động sản hàng đầu Nhật Bản Nomura, Thái Lan chịu thiệt hại đáng kể do tỷ lệ nhập khẩu dầu ròng trên GDP lớn nhất châu Á, với 4,7% GDP. Nghiên cứu chỉ ra mỗi khi giá dầu tăng 10%, cán cân vãng lai của nước này sẽ giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm GDP.
Chính phủ Thái Lan đã ban hành một loạt biện pháp khẩn cấp nhằm ngăn chặn nguy cơ thiếu hụt nhiên liệu. Bộ Năng lượng Thái Lan đã yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh dầu mỏ nâng mức dự trữ bắt buộc từ 1% lên 3%. Thái Lan cũng tạm dừng xuất khẩu các sản phẩm nhiên liệu tinh chế nhằm ưu tiên nguồn cung trong nước, ngoại trừ Lào và Myanmar, hai quốc gia có quan hệ trao đổi năng lượng chặt chẽ với Thái Lan. Chính phủ Thái Lan cũng xây dựng các kịch bản dự phòng nếu thị trường năng lượng tiếp tục biến động. Trong đó có khả năng tăng tỷ lệ pha trộn nhiên liệu sinh học trong dầu diesel từ 5% lên 7% hoặc 10% nếu giá dầu thế giới tăng mạnh.
HOÀNG SƠN