Các tổ chức bảo tồn 'hiến kế' quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia

Các tổ chức bảo tồn 'hiến kế' quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia
26 phút trướcBài gốc
Bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)
Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam vừa có bản kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ, liên quan đến việc sắp xếp quản lý hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển và đất ngập nước quan trọng trong quá trình tinh gọn đơn vị sự nghiệp công lập.
Đáng chú ý, các tổ chức kiến nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nhanh chóng xây dựng Đề án tổng thể về tổ chức lại việc quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia; trong đó đề xuất phương án sắp xếp đồng bộ, khả thi; không triển khai theo hướng thí điểm rời rạc đồng thời không xử lý theo từng đơn vị riêng lẻ.
Cần thực hiện trên nền tảng khoa học bảo tồn
Các tổ chức bảo tồn gửi kiến nghị, gồm: Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, Trung tâm Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Quản trị Tài nguyên Vùng cao, Trung tâm hành động vì động vật hoang dã, Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn Thiên nhiên, Trung tâm Môi trường và Phát triển Nguồn lực Cộng đồng.
Theo nội dung kiến nghị, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam khẳng định ủng hộ chủ trương tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, trong đó có nhiệm vụ sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập của các bộ, ngành và địa phương. Tuy nhiên, các tổ chức bảo tồn cũng lưu ý đối với hệ thống khu bảo tồn, việc tinh gọn cần được thực hiện trên nền tảng của khoa học bảo tồn, giá trị sinh thái và chức năng lâu dài của từng khu, thay vì chỉ tiếp cận như một bài toán giảm số lượng đầu mối hành chính.
Lý do bởi các vườn quốc gia và khu bảo tồn là những đơn vị sự nghiệp có tính đặc thù cao, khác biệt với các đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực khác. Đây là nền tảng của an ninh sinh thái quốc gia, bảo vệ và duy trì rừng tự nhiên, nguồn nước, các hệ sinh thái quan trọng như đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, sinh cảnh loài đặc hữu và các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu, cung cấp và đảm bảo nhu cầu sống còn cho hầu hết hoạt động sản xuất, kinh tế và đời sống nhân dân.
Riêng hệ thống rừng, Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025 cho biết Việt Nam có 14.971.553 ha rừng, trong đó rừng đặc dụng chiếm 2.251.985 ha; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%.
Ở khu vực biển, theo các tổ chức bảo tồn, yêu cầu cải cách quản trị càng cấp thiết. Quyết định số 1539/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 mở rộng, thành lập mới và quản lý hiệu quả 27 khu bảo tồn biển, bảo đảm diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt 6% diện tích tự nhiên vùng biển. Điều đó cho thấy hệ thống các khu bảo tồn cần được nhìn rộng hơn rừng đặc dụng, gồm cả các hệ sinh thái biển, ven biển, đất ngập nước, khu Ramsar, khu bảo tồn loài và sinh cảnh và các vùng sinh cảnh có giá trị quốc gia.
“Chúng tôi lo rằng nếu việc sắp xếp được thực hiện theo hướng sáp nhập cơ học theo địa giới hành chính hoặc theo chỉ tiêu giảm đầu mối, mục tiêu bảo tồn có thể bị suy yếu nghiêm trọng,” ông Trịnh Lê Nguyên - Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên, đại diện các tổ chức bảo tồn chia sẻ.
Nội dung kiến nghị trên cũng đề cập tới các định hướng lớn của Đảng trong giai đoạn mới đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái. Về khía cạnh văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đặt vấn đề xây dựng văn hóa gắn với tôn trọng, bảo vệ môi trường sinh thái.
Hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn cần được nhìn nhận như nền tảng sinh thái và văn hóa của quốc gia, không phải là không gian trực tiếp phục vụ tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.
Do vậy, các tổ chức bảo tồn cho rằng trong khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, văn minh, hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn cần được nhìn nhận như nền tảng sinh thái và văn hóa của quốc gia, không phải là không gian trực tiếp phục vụ tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Dư địa phát triển trong ngành lâm nghiệp trước hết nằm ở hơn 8,03 triệu ha rừng sản xuất; còn hơn 2,25 triệu ha rừng đặc dụng cùng các khu bảo tồn biển, đất ngập nước cần được quản trị theo mục tiêu cao nhất là bảo tồn, duy trì chức năng sinh thái và gìn giữ vốn tự nhiên cho các thế hệ mai sau.
Khu bảo tồn cần một trục quản trị đủ mạnh
Với tầm quan trọng đó, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam kiến nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nhanh chóng xây dựng “Đề án tổng thể về tổ chức lại việc quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.” Trong đó, đề án cần đề xuất phương án sắp xếp đồng bộ, khả thi về pháp lý, tài chính, nhân sự, tài sản công, đất đai, dữ liệu và thẩm quyền quản lý; không triển khai theo hướng thí điểm rời rạc, không xử lý theo từng đơn vị riêng lẻ.
Cụ thể, đề án nên tập trung xác lập nguyên tắc quản lý khu bảo tồn theo giá trị sinh thái, không chỉ theo địa giới hành chính. Các khu liền kề hoặc có kết nối chức năng sinh thái trực tiếp, kể cả nằm ở nhiều tỉnh khác nhau, cần được xem xét hợp nhất hoặc quản lý như một đơn vị bảo tồn thống nhất.
Tiếp theo, đề án cần hình thành một đầu mối chuyên trách cấp quốc gia đủ thẩm quyền quản lý trực tiếp hệ thống khu bảo tồn có giá trị quốc gia; nghiên cứu sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan cấp cục có liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, kiểm lâm, lâm nghiệp, thủy sản, biển và đất ngập nước theo hướng trực tiếp quản lý thống nhất các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển, đất ngập nước quan trọng, khu Ramsar, khu bảo tồn loài và sinh cảnh...
Cùng với đó, các tổ chức bảo tồn kiến nghị duy trì và tăng cường ban quản lý tại chỗ; phân định rõ vai trò của trung ương và địa phương. Trong đó, chính quyền địa phương vẫn cần tham gia sâu vào quản lý vùng đệm, sinh kế cộng đồng, dịch vụ công, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, du lịch và phối hợp xử lý vi phạm. Tuy nhiên, các quyết định cốt lõi liên quan đến mục tiêu bảo tồn, phân khu chức năng, chuyển đổi sử dụng đất, đầu tư hạ tầng, khai thác dịch vụ, cho thuê môi trường rừng hay đánh giá hiệu quả quản lý cần được đặt dưới sự phê duyệt và giám sát của cơ quan Trung ương.
Đồng thời quy định rà soát các công ty lâm nghiệp nhà nước. Theo đó, những diện tích rừng tự nhiên, rừng có giá trị đa dạng sinh học cao, sinh cảnh loài nguy cấp, hành lang sinh thái hoặc có khả năng mở rộng khu bảo tồn cần được xem xét chuyển sang hệ thống khu bảo tồn do Trung ương quản lý.
Ngược lại, những diện tích có chức năng phòng hộ rõ rệt nhưng không đạt tiêu chí khu bảo tồn, các tổ chức bảo tồn kiến nghị có thể chuyển sang hệ thống rừng phòng hộ do địa phương quản lý.
Đề án cũng cần thiết kế cơ chế tài chính quốc gia cho khu bảo tồn. Hệ thống khu bảo tồn là tài sản quan trọng quốc gia, nên đầu tư cho quản lý, bảo vệ hệ thống này cũng là đầu tư cho phát triển, thuộc trách nhiệm của Nhà nước.
Ngoài ra, cơ quan quản lý cần chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý, bởi việc tổ chức lại hệ thống khu bảo tồn quốc gia sẽ liên quan đến nhiều luật và quy định hiện hành về lâm nghiệp, đa dạng sinh học, thủy sản, đất đai, tài sản công, ngân sách nhà nước, viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập và phân cấp quản lý giữa trung ương với địa phương. Vì vậy, đề án cần đánh giá rõ các vướng mắc pháp lý và đề xuất văn bản cần sửa đổi, bổ sung; trường hợp cần thiết, có thể trình Chính phủ hoặc Quốc hội ban hành một nghị quyết chuyên đề để thực hiện đồng bộ, kịp thời và đúng thẩm quyền.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Trung Quốc đã ban hành Luật Vườn quốc gia năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, theo hướng thiết lập hệ thống quản lý vườn quốc gia thống nhất, chuẩn hóa và hiệu quả; trung ương giữ vai trò giám sát, quản lý hệ thống, trong khi cơ quan quản lý từng khu bảo tồn và chính quyền địa phương vẫn có trách nhiệm phối hợp thực thi.
Hay như Thái Lan cũng đã tổ chức hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã theo tuyến quản lý chuyên trách ở trung ương, thông qua các ban quản lý tại chỗ và cơ chế phối hợp với địa phương.
Theo ông Trịnh Lê Nguyên - Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên, cách tiếp cận trên không phải là mới, nhưng cho thấy một nguyên tắc quan trọng: Khu bảo tồn cần một trục quản trị quốc gia đủ mạnh, đồng thời duy trì các ban quản lý tại chỗ đủ năng lực và vai trò phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương để bảo vệ hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng và cũng là di sản vô giá của đất nước./.
(Vietnam+)
Nguồn VietnamPlus : https://www.vietnamplus.vn/cac-to-chuc-bao-ton-hien-ke-quan-ly-he-thong-khu-bao-ton-thien-nhien-quoc-gia-post1111502.vnp