Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định chọn một trong ba bộ SGK để làm bộ sách thống nhất cho năm học tới có thể hiểu đây là giải pháp mang tính tình thế nhằm đáp ứng Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị.
Tuy nhiên, nội dung chương trình giáo dục phổ thông thế nào thì SGK buộc phải thể hiện như vậy và khó có thể khác xa. Khi bản thân chương trình còn tồn tại những bất cập thì SGK khó có thể đạt được tính chuẩn mực, và càng khó hỗ trợ giáo viên, học sinh thay đổi phương pháp dạy học cũng như đổi mới kiểm tra, đánh giá – những hoạt động vốn đã rất khó khăn trong thực tiễn.
Hệ quả là chất lượng giáo dục khó đạt được mục tiêu đổi mới theo kỳ vọng của Nghị quyết 29/TW.
Học sinh Trường THCS - THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội).
Theo tôi, trước mắt cần chỉnh sửa Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (CT2018), trước khi chỉnh sửa SGK, bộ dùng chung.
Chỉnh sửa bảo đảm tính đồng bộ về khoa học và thực tiễn
Tôi đồng tình với việc CT2018 được ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 (TT32), trong đó chia Chương trình thành hai giai đoạn: giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, cần xem xét lại cách phân chia này, đặc biệt là mức độ đồng bộ với chủ trương giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh theo Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ (QĐ522).
Giai đoạn giáo dục cơ bản: tương ứng với 9 năm đầu của giáo dục phổ thông. Có thể cân nhắc gọi là giáo dục cơ bản và toàn diện.
“Cơ bản” là tập trung vào nền tảng, cốt lõi, những yếu tố quan trọng nhất quyết định bản chất của Chương trình. Tuy nhiên, cần bổ sung khía cạnh “toàn diện” để bao quát đầy đủ các mặt và mối liên hệ giữa chúng, tránh bỏ sót bất kỳ thành tố quan trọng nào. Cách tiếp cận này giúp Chương trình vừa xác định rõ trọng tâm, vừa có cái nhìn tổng thể và cân đối.
Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Theo Thông tư 32, giai đoạn THPT được hiểu là việc phân chia học sinh lớp 10 theo các tổ hợp môn học, và Chương trình coi đây là hình thức định hướng nghề nghiệp.
Tuy nhiên, cách làm này trên thực tế vẫn chỉ là học văn hóa theo lộ trình tuyến tính, tương tự cấp Tiểu học và THCS.
Cách tiếp cận đó chưa đáp ứng đúng mục tiêu phân luồng học sinh theo Quyết định 522 - văn bản được ban hành trước Thông tư 32 hơn 7 tháng.
Theo Quyết định 522 của Thủ tướng Chính phủ mong muốn có khoảng 40% học sinh sau THCS đi học nghề hoặc tham gia lao động sớm. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm triển khai CT2018, thống kê từ các địa phương cho thấy: khoảng 60 - 80% học sinh sau THCS tiếp tục học lớp 10 tại các trường công lập; số còn lại học ở trường tư thục hoặc hệ giáo dục thường xuyên. Đáng lưu ý, tỷ lệ học sinh sau THCS theo học nghề hoặc tham gia lao động sớm chỉ dưới 5%, rất xa so với mục tiêu 40% của Quyết định 522.
Tôi cho rằng, CT2018 chưa đưa ra được các biện pháp cụ thể để thực hiện phân luồng học sinh sau THCS.
Trên nguyên tắc, cần hài hòa giữa năng lực, hứng thú cá nhân với nhu cầu xã hội và theo thông lệ quốc tế, giáo dục định hướng nghề nghiệp phải giúp học sinh lựa chọn con đường phù hợp nhất với bản thân, đồng thời đáp ứng yêu cầu phân công lao động của quốc gia, tránh tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”.
Vì vậy, ở giai đoạn THPT, Chương trình cần được thiết kế theo hai cấp độ, hai luồng. Luồng thứ nhất là: Trung học nghề, dành cho đa số học sinh (theo tỷ lệ quá bán).
Luồng thứ hai: Trung học học thuật, dành cho học sinh có năng lực học tập nổi trội, nhằm tạo nguồn cho giáo dục đại học (với tỷ lệ không quá 35%).
Do đó, CT2018 cần được điều chỉnh, đồng thời hướng tới mục tiêu phổ cập giáo dục THPT trên phạm vi toàn quốc.
Cập nhật các năng lực chung và chuẩn năng lực đầu ra
Được biết Thông tư 32 đã được ban hành gần 10 năm, vì vậy một số nội dung lạc hậu hoặc chưa phù hợp với các xu hướng phát triển trên thế giới, như: năng lực số, năng lực trí tuệ nhân tạo (AI), năng lực công dân toàn cầu, năng lực khởi nghiệp và sáng tạo. Đây là những năng lực thiết yếu trong bối cảnh mới và cần sớm được bổ sung, cập nhật trong CT2018.
Theo khoa học giáo dục, một chương trình giáo dục bắt buộc phải ban hành Chuẩn kiến thức – kỹ năng, hay còn gọi là Chuẩn năng lực đầu ra.
Đây là cơ sở để định hướng và điều tiết hoạt động dạy học, đánh giá học sinh, đồng thời làm “khuôn” cho việc xây dựng đề kiểm tra, đề thi. Đặc biệt, trong bối cảnh tồn tại nhiều bộ SGK, nên có nhiều cách tiếp cận khác nhau, việc ban hành “chuẩn” càng trở nên cần thiết nhằm tránh tình trạng các tác giả, chủ biên đi quá xa so với khung CT2018.
Khi có “chuẩn”, Hội đồng thẩm định về chương trình hay thẩm định về SGK, sẽ có căn cứ khoa học rõ ràng để đánh giá và thẩm định. Hay nói theo cách khác, cần có cái “gậy” để phán xét và quyết định.
Cần có chuẩn đầu ra để định hướng hoạt động dạy học. (Ảnh: Hà Linh)
Việc ban hành “chuẩn” đòi hỏi phải xây dựng một hệ tiêu chí khoa học, có thể đo lường hoặc nhận diện đượcvà có khả năng bao trùm các môn học, các khung đánh giá, cũng như cấu trúc đề kiểm tra, đề thi cho cả 12 lớp học phổ thông.
Bộ “chuẩn” này cần được nghiên cứu công phu, thẩm định nghiêm ngặt bởi các chuyên gia, trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành; không thể chỉ dừng lại ở những mô tả chung chung hay giải thích khái quát về “chuẩn” của CT2018.
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các cơ sở giáo dục gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá học sinh theo năm phẩm chất và mười năng lực. Cách hiểu và vận dụng giữa các địa phương, các nhà trường còn thiếu thống nhất.
Việc xây dựng đề kiểm tra, dù có dựa trên bốn mức độ năng lực, vẫn thiếu sự tương đương giữa các trường và các vùng miền do không có “thước đo” cụ thể, tường minh. Ngay cả các kỳ thi quốc gia cũng chủ yếu dựa trên phương pháp chuyên gia, chưa có “chuẩn” CT2018 làm căn cứ thống nhất đề thi.
Những hạn chế này cần sớm được khắc phục nhằm bảo đảm công bằng và bình đẳng trong giáo dục. Khi không có chung một “chuẩn”, sẽ không thể đưa ra những kết luận chính xác về chất lượng giáo dục của một nhà trường, một địa phương hay trên phạm vi cả nước. Bên cạnh đó, CT2018 hiện chưa có các chương trình phù hợp cho các nhóm đối tượng người học và vùng dân cư, rất đa dạng, gây khó khăn cho mục tiêu phổ cập giáo dục và làm gia tăng nguy cơ phân hóa chất lượng giáo dục, điều này chưa phù hợp với tinh thần nhân văn của nền giáo dục Việt Nam.
Việc chưa ban hành “chuẩn” còn để lại một hệ quả nghiêm trọng khác là tình trạng quá tải chương trình.
Theo tâm lý chung, người biên soạn SGK thường có xu hướng đưa kiến thức khó hơn và mới hơn so với yêu cầu tối thiểu. Trong khi đó, CT2018 là chương trình định hướng phát triển năng lực người học, do đó cần bảo đảm nguyên tắc: kiến thức vừa đủ, ở mức tối thiểu và cần thiết, để dành thời gian cho các hoạt động trải nghiệm, học thông qua thực hành. Việc thiếu “chuẩn” rõ ràng rất dễ dẫn đến hệ lụy quá tải đối với chương trình giáo dục.
TS Đặng Tự Ân - Giám đốc Quỹ Hỗ trợ Đổi mới Giáo dục Việt Nam