Doanh nghiệp Việt vẫn mắc kẹt ở phân khúc giá trị thấp
Theo báo cáo của Brand Finance, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam đã đạt gần 520 tỷ USD vào năm 2025, tăng 63% so với năm 2020, xếp thứ 32/193 quốc gia.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), sự tăng trưởng này chủ yếu về quy mô, trong khi giá trị nội tại của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.
Một minh chứng rõ nét là tổng giá trị của Top 100 thương hiệu hàng đầu Việt Nam chỉ hơn 36 tỷ USD và giảm 14% trong năm 2023. Điều này cho thấy doanh nghiệp trong nước chưa đủ mạnh để đóng vai trò “trụ cột” nâng tầm thương hiệu quốc gia.
Hiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu nằm ở phân khúc thấp của chuỗi giá trị toàn cầu, với thế mạnh là sản xuất, gia công (OEM), nhưng còn yếu ở khâu thiết kế (ODM) và đặc biệt là xây dựng thương hiệu riêng (OBM).
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Secoin cho biết, phần lớn giá trị xuất khẩu của Việt Nam vẫn đến từ khu vực FDI, chiếm tới 73% trong năm 2023.
Doanh nghiệp nội địa, đặc biệt trong các ngành như dệt may, da giày, vẫn chủ yếu tham gia ở khâu OEM cho các thương hiệu nước ngoài, khiến giá trị gia tăng thấp. Đây là lý do khiến thương hiệu quốc gia chưa phản ánh đúng năng lực thực chất của doanh nghiệp Việt.
“Chúng ta đang xuất khẩu nhiều nhưng phần giá trị giữ lại không cao”, ông Kỳ nhấn mạnh.
Ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Secoin.
Trong khi đó, con đường phát triển bền vững đòi hỏi doanh nghiệp phải chuyển sang OBM - tự xây dựng thương hiệu, làm chủ thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm.
Chuyển sang OBM - con đường phát triển bền vững
Thực tế, Secoin là một trong số ít doanh nghiệp lựa chọn con đường này. Thay vì cạnh tranh bằng quy mô, doanh nghiệp tập trung vào giá trị cốt lõi, phát triển sản phẩm từ vật liệu đặc trưng của Việt Nam, kết hợp thiết kế quốc tế để từng bước xây dựng thương hiệu riêng trên thị trường toàn cầu.
Phân tích rõ hơn quá trình chuyển dịch, bà Trương Thị Chí Bình - Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cho rằng sự khác biệt giữa OEM và OBM nằm ở khả năng sáng tạo và làm chủ sản phẩm.
Trong khi OEM chỉ đơn thuần sản xuất theo bản vẽ, thì OBM đòi hỏi doanh nghiệp phải sở hữu thiết kế, thương hiệu và hệ sinh thái sản phẩm.
Theo bà Bình, doanh nghiệp Việt đã làm tốt OEM trong nhiều năm, tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn như Samsung hay VinFast. Tuy nhiên, việc chuyển lên OBM vẫn gặp nhiều rào cản.
Bà Trương Thị Chí Bình - Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.
Trong đó, hạn chế lớn nhất là năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), khiến doanh nghiệp khó chủ động trong thiết kế và đổi mới sản phẩm. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ sinh thái hỗ trợ, từ nguồn cung linh kiện đến dữ liệu thị trường, cũng khiến doanh nghiệp khó chuyển sang OBM.
Một khó khăn khác là mô hình sản xuất của doanh nghiệp Việt chủ yếu quen với sản xuất đại trà, trong khi OBM lại yêu cầu khả năng sản xuất linh hoạt, đa dạng và gắn với thị trường tiêu dùng.
Ngoài ra, vấn đề sở hữu trí tuệ cũng đặt ra thách thức lớn. Nếu không có nền tảng bảo hộ thương hiệu và sáng chế, doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro pháp lý khi phát triển sản phẩm riêng.
Cần cú hích chính sách để nâng tầm thương hiệu quốc gia
Dù còn nhiều rào cản, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Việt vẫn có cơ hội lớn để chuyển dịch sang OBM nhờ lợi thế về chất lượng sản phẩm, khả năng thích ứng nhanh và tư duy cải tiến.
Theo bà Trương Thị Chí Bình, thực tế cho thấy kỹ sư và công nhân Việt Nam có khả năng cải tiến sản phẩm nhanh, linh hoạt hơn so với nhiều quốc gia khác. Đây là nền tảng quan trọng để tiến lên các nấc thang giá trị cao hơn.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần một “cú hích” từ chính sách, đặc biệt trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực R&D, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và tiếp cận nguồn lực tài chính.
Quan trọng hơn, việc chuyển từ OEM sang OBM không chỉ là câu chuyện của từng doanh nghiệp, mà là chiến lược dài hạn để nâng tầm thương hiệu quốc gia, giúp Việt Nam thoát khỏi vị thế gia công, tiến tới nắm giữ phần giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Minh Thu