Theo đề xuất, giai đoạn 2021 - 2030 cần khoảng 10.955 tỷ đồng để triển khai các hạng mục ưu tiên; phần vốn còn lại, khoảng 9.018 tỷ đồng, sẽ được bố trí cho giai đoạn sau năm 2030 nhằm hoàn thiện theo định hướng dài hạn.
Sân bay Buôn Ma Thuột, tọa lạc tại phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiếp tục được quy hoạch là cảng hàng không cấp 4C, phục vụ lưỡng dụng giữa dân dụng và quân sự. Trong giai đoạn 2021 - 2030, công suất khai thác dự kiến đạt từ 3 đến 5 triệu hành khách mỗi năm, cùng khoảng 10.000 tấn hàng hóa.
Để đáp ứng nhu cầu này, hạ tầng sân bay sẽ được nâng cấp đồng bộ. Đường cất hạ cánh hiện hữu dài 3.000m, rộng 45m được cải tạo để khai thác các dòng máy bay thân hẹp như Airbus A320, A321 và tương đương. Hệ thống sân đỗ được bố trí 19 vị trí, cùng các đường lăn song song và đường lăn nối nhằm tăng hiệu quả vận hành.
Về nhà ga hành khách, nhà ga T1 hiện hữu tiếp tục được duy trì, cải tạo khi cần thiết để đạt công suất khoảng 2 triệu hành khách/năm. Đồng thời, nhà ga T2 sẽ được đầu tư xây dựng mới với công suất khoảng 3 triệu hành khách/năm, góp phần đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trong trung hạn.
Cần khoảng 19.973 tỷ đồng đầu tư sân bay Buôn Ma Thuột theo quy hoạch đến năm 2050
Trong tầm nhìn đến năm 2050, sân bay Buôn Ma Thuột được định hướng nâng công suất lên khoảng 7 triệu hành khách và 15.000 tấn hàng hóa mỗi năm. Số vị trí đỗ máy bay sẽ tăng lên 27 vị trí; đồng thời quy hoạch bổ sung đường băng thứ hai dài 2.400m để sẵn sàng triển khai khi nhu cầu khai thác gia tăng.
Nhà ga hành khách T2 cũng sẽ được mở rộng lên công suất khoảng 5 triệu hành khách/năm trong giai đoạn dài hạn, trong khi khu nhà ga hàng hóa được đầu tư mở rộng tương ứng với nhu cầu vận tải.
Về kết nối giao thông, sân bay tiếp tục khai thác tuyến đường Đam San hiện hữu kết nối với quốc lộ 27, đồng thời quy hoạch thêm trục giao thông chính rộng khoảng 70m liên kết với cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột và đại lộ Đông - Tây, góp phần tăng cường khả năng kết nối vùng.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, việc điều chỉnh công suất giai đoạn 2021 - 2030 xuống mức 3 - 5 triệu hành khách/năm là phù hợp với thực tế phát triển và dư địa thời gian. Trong khi đó, định hướng 7 triệu hành khách/năm vào năm 2050 vẫn đảm bảo không gian tăng trưởng dài hạn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Tây Nguyên và hệ thống hàng không quốc gia.
Nguyễn Tùng