Nạn nhân được cứu là may mắn và nỗ lực đáng trân trọng của những người trong cuộc. Nhưng, hệ thống y tế không nên đặt cược vào may mắn.
Theo thông tin từ Bệnh viện Trung ương Huế, khi tiếp nhận, bệnh nhi đã trong tình trạng nguy kịch: Liệt tứ chi, đồng tử hai bên giãn 5mm, không phản xạ ánh sáng. Các bác sĩ xác định cần dùng huyết thanh kháng nọc rắn. Tuy nhiên, thời điểm đó bệnh viện không có sẵn thuốc trong tủ trực cấp cứu, và loại huyết thanh này cũng không có ở bất kỳ cơ sở y tế nào tại Huế. Sau đó, năm lọ huyết thanh kháng nọc được gửi từ Bệnh viện Nhi đồng 1 (Thành phố Hồ Chí Minh) ra Huế, gửi một hành khách mang theo trên chuyến bay đêm. Nhờ được tiêm kịp thời, bệnh nhi đã qua cơn nguy kịch.
Một sinh mạng được giữ lại. Nhưng việc thuốc phải “đi nhờ” máy bay để đến phòng cấp cứu khiến chúng ta không khỏi băn khoăn. Trong những tình huống nguy cấp, điều bệnh nhân cần nhất là thời gian, mà thời gian không phải lúc nào cũng đủ để chờ một chuyến bay.
Huyết thanh kháng nọc rắn không phải là thuốc sử dụng thường xuyên. Lãnh đạo một số cơ sở y tế cho biết, số ca cần dùng không nhiều, trong khi giá thành cao và thời hạn bảo quản có giới hạn; nếu không sử dụng kịp phải hủy bỏ. Trong cơ chế tự chủ tài chính, những vật tư “ít dùng” vì thế luôn được tính toán rất kỹ: Nhập thì lo tồn kho, không nhập thì khi cần lại không có. Ở góc độ quản trị, sự dè dặt ấy có lý. Nhưng trong cấp cứu, chỉ một khoảng trống vài giờ cũng có thể trở thành ranh giới mong manh giữa ổn định và trở nặng, nhất là tại các địa bàn miền núi như A Lưới, nơi rắn độc không phải là câu chuyện hiếm gặp trong sinh hoạt thường ngày.
Việc tuyến dưới không có huyết thanh có thể do điều kiện hạn chế, song việc một bệnh viện tuyến cuối khu vực miền trung vẫn không có sẵn trong tủ cấp cứu và tại cùng thời điểm không còn nguồn dự trữ nào trên cùng địa bàn, cho thấy cơ chế dự trữ đối với thuốc đặc thù chưa thật sự bám sát nguy cơ thực tế.
Điều đáng suy nghĩ không chỉ là việc thiếu thuốc ở một thời điểm cụ thể, mà là cách hệ thống nhìn nhận những rủi ro “xác suất thấp, nhưng hậu quả cao”. Khi một loại thuốc ít dùng, nó dễ bị xếp sau trong thứ tự ưu tiên, song với bệnh nhân rơi đúng vào tình huống ấy, đó lại là thứ duy nhất có thể đảo ngược diễn tiến nặng.
Có lẽ đã đến lúc cần coi huyết thanh kháng nọc rắn và một số loại thuốc ít sử dụng khác như một dạng dự trữ chiến lược theo vùng dịch tễ, thay vì chỉ là mặt hàng trong danh mục mua sắm. Những khu vực thường ghi nhận nhiều loài rắn độc cần có định mức dự trữ tối thiểu tại tuyến tỉnh và một số điểm trọng yếu. Định mức ấy phải đủ rõ ràng để các cơ sở y tế không phải lúng túng giữa yêu cầu chuyên môn và bài toán tài chính.
Cùng với đó là cơ chế tài chính phù hợp cho nhóm vật tư “ít dùng nhưng không thể thiếu”. Nếu thuốc hết hạn, chi phí hủy bỏ nên được coi là chi phí dự phòng rủi ro y tế - một phần của trách nhiệm bảo đảm an toàn cộng đồng. Khi được nhìn như khoản đầu tư cho sự chuẩn bị, thay vì một khoản lỗ, tâm lý dè dặt sẽ bớt đi.
Việc xây dựng kho dự trữ khu vực, có hệ thống theo dõi tồn kho và hạn dùng, cũng cần được tính toán. Điều phối tập trung, luân chuyển trước khi hết hạn… là cách để giảm lãng phí mà vẫn bảo đảm sẵn sàng.
5 lọ huyết thanh đã đến kịp thời. Đó là may mắn và là nỗ lực đáng trân trọng của những người trong cuộc. Nhưng, hệ thống y tế không nên đặt cược vào may mắn. Điều người dân mong đợi không phải là khả năng xoay xở trong phút chót, mà là sự chuẩn bị từ trước để khi rủi ro xảy ra, thuốc đã ở đó, không phải chờ lòng tốt của một hành khách đi máy bay.
DƯƠNG QUANG TIẾN