Quốc hội vừa nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra và thảo luận tổ về 4 dự án Luật do Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo, trong đó có dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Theo dự thảo Tờ trình, dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo hướng UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra; không cung cấp thông tin do mình nhận được (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật).
Việc điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp nhằm bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phần quyền, tăng cường trách nhiệm của cơ quan tạo ra thông tin. Hiện nay, khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, hàng nghìn nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện đã được chuyển cho chính quyền cấp xã, dẫn đến khối lượng công việc của UBND cấp xã rất lớn. Việc quy định UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nhận được sẽ tạo áp lực lớn cho UBND cấp xã.
Dự thảo Luật không quy định cụ thể cơ quan đầu mối thực hiện cung cấp thông tin như khoản 2 Điều 9 Luật hiện hành, mà quy định UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã xác định đơn vị đầu mối cung cấp thông tin cho công dân (điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 10).
Dự thảo Luật cũng quy định khái quát trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, như trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; rà soát, phân loại, kiểm tra, bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin...
Về phạm vi thông tin, dự thảo Luật sửa đổi các quy định về thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện (Điều 15 và Điều 16) để bảo đảm cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn và thống nhất, đồng bộ với quy định của pháp luật có liên quan. Việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việc tiếp cận có điều kiện đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Thảo luận tại Tổ về quy định người thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Đại biểu Lò Thị Luyến (Đoàn Điện Biên) đề nghị xem xét để quy định cụ thể cách thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo từng nhóm tuổi (nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và nhóm dưới 14 tuổi) để phù hợp với năng lực hành vi nhân sự và nhận thức của người dưới 18 tuổi.
Về thông tin công dân không được tiếp cận, Đại biểu Lò Thị Luyến nhận thấy quy định về các nội dung thông tin công dân không được tiếp cận chỉ bổ sung so với Luật hiện hành quy định sau: “Việc xác định thông tin nêu trên thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin”. Theo Đại biểu, quy định như vậy sẽ không giải quyết được khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng thi hành Luật trên thực tiễn.
Tương tự như vậy, dự thảo Luật cũng quy định “Thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật”. Quy định này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất, thậm chí có thể bị lạm dụng để từ chối cung cấp thông tin.
Do vậy, Đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết về danh mục hoặc tiêu chí để xác định thông tin nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; xác định thế nào là bí mật công tác nhằm bảo đảm tính thống nhất, thuận tiện cho việc áp dụng quy định này.
Liên quan đến quy định về phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn Cà Mau) đánh giá, thiết kế của dự thảo Luật đã có bước tiến khi xác lập nguyên tắc chung là công dân được tiếp cận thông tin, trừ các trường hợp bị hạn chế. Tuy nhiên, đề nghị rà soát phạm vi các ngoại lệ (Điều 15 dự thảo Luật) để tránh việc mở rộng phạm vi hạn chế tiếp cận thông tin theo hướng chủ quan; đồng thời, bảo đảm công khai, minh bạch.
Bên cạnh đó, khoản 5 và khoản 6 Điều 15 về “bí mật công tác” và “tài liệu nội bộ”; đề nghị tại các văn bản hướng dẫn, văn bản dưới luật cũng cần quy định rõ hơn, vì hiện nay những khái niệm chưa được định danh rõ trong hệ thống pháp luật. Thực tiễn đã cho thấy, nhiều trường hợp người dân và doanh nghiệp đề nghị cung cấp thông tin về quy hoạch, dự án đầu tư, phương án sử dụng đất… nhưng bị từ chối với lý do là “tài liệu nội bộ” hoặc “chưa công khai”, trong khi các nội dung này không thuộc bí mật nhà nước. Một số vụ việc khiếu kiện đất đai kéo dài cũng có nguyên nhân từ việc người dân không tiếp cận được thông tin ngay từ đầu, dẫn đến nghi ngờ, bức xúc và phát sinh tranh chấp.
Ngoài ra, Đại biểu Nguyễn Duy Thanh chia sẻ, việc phân định rạch ròi giữa quyền tiếp cận thông tin với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân thực sự là khó; có lẽ chỉ là tìm được điểm cân bằng. Theo Đại biểu, mấu chốt để hạn chế việc lạm dụng từ chối cung cấp thông tin chính là ở quy định về việc hạn chế quyền tiếp cận phải do luật định và chỉ được áp dụng trong những trường hợp thực sự cần thiết, có căn cứ pháp lý rõ ràng, đi kèm là cơ chế kiểm soát việc phân loại thông tin.
U. San