Cụm công nghiệp Trường Xuân 1 nằm gần khu dân cư. Ảnh: Minh Sơn
Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là hạ tầng kỹ thuật tại nhiều CCN chưa được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong tổng số các CCN đang hoạt động, chỉ có 7 cụm được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, phần lớn các cụm còn lại chưa có hạ tầng xử lý môi trường đạt chuẩn. Thực trạng này không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý môi trường mà còn làm giảm sức hấp dẫn của các CCN đối với các nhà đầu tư thứ cấp bởi nhiều doanh nghiệp khi lựa chọn địa điểm sản xuất thường ưu tiên các khu, cụm công nghiệp có hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng môi trường hoàn chỉnh để đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Không chỉ riêng hạ tầng môi trường, nhiều hạng mục hạ tầng kỹ thuật dùng chung tại các CCN cũng chưa được đầu tư đầy đủ như: hệ thống giao thông nội bộ, cấp thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn, hệ thống điện chiếu sáng công cộng,…
Công tác duy tu, bảo dưỡng và vận hành hạ tầng tại một số CCN còn hạn chế do thiếu nguồn lực tài chính và cơ chế quản lý phù hợp. Một số CCN được định hướng phục vụ di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ làng nghề, khu dân cư hoặc khu vực nông thôn vẫn chưa được đầu tư và phát triển tương xứng với nhu cầu thực tế. Điều này khiến quá trình sắp xếp lại không gian sản xuất gặp nhiều trở ngại. Theo quy định tại Điều 52 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, cùng với các quy định chi tiết tại Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, các CCN phải được đầu tư hạ tầng bảo vệ môi trường, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy tỷ lệ CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung vẫn còn thấp, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Cơ chế hỗ trợ cần đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư
Trước đây, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam (cũ) đã ban hành Nghị quyết số 34/2021/NQ-HĐND ngày 29-9-2021 về chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật CCN giai đoạn 2021-2025. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai, chương trình vẫn chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Đến nay vẫn chưa có doanh nghiệp nào tham gia đầu tư hạ tầng CCN để hưởng cơ chế hỗ trợ theo nghị quyết này. Nguyên nhân chủ yếu là mức hỗ trợ còn thấp và chưa đủ hấp dẫn đối với nhà đầu tư, trong khi chi phí đầu tư hạ tầng CCN, đặc biệt là hạ tầng môi trường thường rất lớn. Trong bối cảnh yêu cầu về bảo vệ môi trường ngày càng cao và xu hướng phát triển công nghiệp xanh, bền vững đang trở thành tiêu chí bắt buộc, việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư hạ tầng CCN - nhất là hệ thống xử lý nước thải tập trung - trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, Ủy ban nhân dân thành phố đã trình Hội đồng nhân dân thành phố Tờ trình số 72/TTr-UBND ngày 6-3-2026 về việc xây dựng Nghị quyết quy định hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật CCN trên địa bàn.
Theo đề xuất, chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng CCN sẽ được triển khai theo nguyên tắc minh bạch và hiệu quả nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý nguồn lực ngân sách. Trước hết, chính sách ưu tiên hỗ trợ đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Việc đầu tư hạ tầng CCN tại các khu vực này không chỉ tạo động lực phát triển công nghiệp mà còn góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ một lần cho mỗi nội dung hỗ trợ trên cùng một đối tượng nhằm tránh tình trạng trùng lặp chính sách hoặc lạm dụng nguồn lực hỗ trợ. Đáng chú ý, việc hỗ trợ sẽ chỉ được thực hiện sau khi chủ đầu tư hoàn thành từng hạng mục công trình theo quy định. Cơ chế này nhằm đảm bảo tính minh bạch trong quản lý ngân sách và khuyến khích nhà đầu tư triển khai dự án đúng tiến độ. Theo dự thảo nghị quyết, tổng mức hỗ trợ từ ngân sách thành phố sẽ không vượt quá 30% tổng vốn đầu tư của dự án xây dựng hạ tầng CCN. Đây được xem là mức hỗ trợ hợp lý nhằm chia sẻ chi phí đầu tư với doanh nghiệp, đồng thời vẫn đảm bảo trách nhiệm và cam kết của nhà đầu tư đối với dự án.
Các nội dung hỗ trợ cũng tập trung vào những hạng mục như: chi phí san lấp mặt bằng nhằm giảm áp lực tài chính ban đầu cho nhà đầu tư; hỗ trợ đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Ngoài ra, các hạng mục hạ tầng kỹ thuật dùng chung như: giao thông nội bộ, cấp thoát nước, hệ thống phòng cháy chữa cháy, cấp điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc, khu cây xanh,… cũng được đưa vào danh mục hỗ trợ. Bên cạnh đó, chính sách còn hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào CCN.
Cần thêm giải pháp để chính sách đi vào cuộc sống
Dù cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng CCN được đánh giá là bước đi tích cực, song để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, thành phố cần quan tâm thêm nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, thành phố cần đẩy nhanh công tác quy hoạch các CCN tích hợp vào điều chỉnh quy hoạch chung thành phố gắn với việc di dời hoặc điều chỉnh quy hoạch một số CCN không còn phù hợp với định hướng không gian phát triển của thành phố mới; chuẩn bị quỹ đất sạch cho đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp bởi thực tế thời gian qua cho thấy việc chậm giải phóng mặt bằng hoặc thiếu quỹ đất sạch khiến các dự án hạ tầng CCN kéo dài nhiều năm. Vì vậy, việc chủ động chuẩn bị quỹ đất và hoàn thiện quy hoạch sẽ giúp rút ngắn thời gian triển khai dự án. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư hạ tầng CCN. Các thủ tục phê duyệt dự án, thẩm định môi trường, cấp phép xây dựng,… cần được rút ngắn thời gian thông qua cơ chế "một cửa liên thông" và ứng dụng nền tảng số trong quản lý đầu tư.
Hạ tầng cụm công nghiệp Trường Xuân 1. Ảnh: Minh Sơn
Ngoài ra cần kết hợp phát triển CCN với chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ nhằm thu hút các doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao và ít gây ô nhiễm. Song song với đó, mặc dù chính sách hỗ trợ lần này đã đề cập đến việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các CCN, song cần tiếp tục quan tâm đến việc phân bổ tỷ lệ đầu tư hợp lý giữa khu vực đồng bằng và miền núi. Trọng tâm là đầu tư hệ thống hạ tầng kết nối các CCN với các trục giao thông chính và mạng lưới logistics nhằm bảo đảm khả năng lưu thông hàng hóa thuận lợi, theo đó cần tiến hành rà soát, đánh giá hệ thống giao thông kết nối đến các CCN để đề xuất đưa vào danh mục đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 nhằm từng bước hoàn thiện hạ tầng và tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Khi có cơ chế hỗ trợ phù hợp, các doanh nghiệp và hợp tác xã sẽ mạnh dạn tham gia đầu tư hạ tầng CCN, góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các CCN. Điều này không chỉ giúp tăng số lượng dự án đầu tư mà còn thúc đẩy quá trình di dời các cơ sở sản xuất từ khu dân cư vào CCN, góp phần cải thiện môi trường sống và nâng cao chất lượng đô thị.
Minh Sơn