Côn trùng học Việt Nam ghi dấu với hơn 800 loài mới cho khoa học
Ngày 21/5, Hội Côn trùng học Viện Nam và Viện Sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng Trung ước đã tổ chức Hội nghị côn trùng học Quốc gia lần thứ 12 với chủ đề: Côn trùng - yếu tố cấu thành không thể thay thế trong hệ sinh thái.
Phát biểu khai mạc Hội nghị Côn trùng học lần thứ 12, GS.TSKH Vũ Quang Côn, Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam cho biết hội nghị là dịp để nhìn lại chặng đường phát triển của ngành côn trùng học Việt Nam, đồng thời kết nối các nhà khoa học tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu trong thời gian tới.
GS.TSKH Vũ Quang Côn, Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam phát biểu tại sự kiện.
Theo GS.TSKH Vũ Quang Côn, Hội Côn trùng học Việt Nam được thành lập ngày 19/5/1966 trong bối cảnh chiến tranh còn nhiều khó khăn. Tại hội nghị khoa học năm đó, các nhà khoa học đầu ngành đã quyết định thành lập hội nhằm tập hợp lực lượng nghiên cứu côn trùng học trong cả nước.
Ông cho biết trong suốt 60 năm hình thành và phát triển, hoạt động của hội gắn liền với nhiều giai đoạn khó khăn của đất nước. Thời kỳ chiến tranh phá hoại, các buổi sinh hoạt chuyên môn thường diễn ra vào ban đêm tại các hội khoa học kỹ thuật để tránh bom đạn.
Từ năm 2002, Hội Côn trùng học Việt Nam bắt đầu xây dựng hệ thống xuất bản khoa học bài bản. Cứ 3 năm một lần, hội tổ chức hội nghị khoa học và xuất bản tuyển tập công trình nghiên cứu với khoảng 80 công trình khoa học mỗi kỳ.
Các đại biểu, nhà khoa học tham dự sự kiện.
Theo GS.TSKH Vũ Quang Côn, lĩnh vực phân loại học và khu hệ côn trùng đã đạt nhiều thành tựu nổi bật. Đến nay, ngành côn trùng học Việt Nam đã xuất bản 18 tập sách về khu hệ côn trùng, mô tả hơn 2.700 loài, trong đó có trên 800 loài mới cho khoa học.
"Điều đó cho thấy khu hệ côn trùng Việt Nam rất phong phú và đội ngũ nghiên cứu phân loại học của chúng ta có nhiều đóng góp quan trọng", ông nhấn mạnh.
Ngoài phân loại học, các nghiên cứu về sinh thái, tập tính côn trùng, cơ sở khoa học cho phòng trừ sâu hại trong nông nghiệp và kiểm soát véc-tơ truyền bệnh trong y tế cũng được đẩy mạnh. Đặc biệt, hơn 30 năm qua, nhiều nghiên cứu về đấu tranh sinh học, quan hệ ký sinh – vật chủ – thiên địch đã đạt được kết quả đáng kể.
Các nhà côn trùng học cũng phối hợp với giới động vật học nghiên cứu đa dạng sinh học, góp phần đề xuất thành lập nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trên cả nước.
GS.TSKH Vũ Quang Côn cho biết từ năm 1919 đến nay, ngành côn trùng học Việt Nam đã công bố hơn 175 đầu sách chuyên khảo và nhiều công trình khoa học có giá trị. Đặc biệt, từ sau năm 2000, số lượng sách và công bố quốc tế tăng mạnh nhờ điều kiện nghiên cứu và hợp tác quốc tế được cải thiện.
Theo thống kê của hội, lĩnh vực côn trùng học hiện có khoảng 450 bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI và Scopus. Đây được xem là bước tiến lớn của ngành trong quá trình hội nhập khoa học quốc tế.
Bên cạnh tổng kết thành tựu, Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam cũng kêu gọi các nhà khoa học trẻ tiếp tục theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu về phân loại học, sinh thái học và bảo tồn thiên nhiên.
Ông nhấn mạnh côn trùng học không chỉ phục vụ phòng trừ dịch hại mà còn mở ra nhiều hướng ứng dụng mới như sử dụng côn trùng làm thực phẩm, dược liệu và phát triển kinh tế sinh học.
GS.TSKH Vũ Quang Côn đồng thời đề nghị các cơ quan quản lý xem xét thận trọng khi ban hành quy định liên quan đến nuôi côn trùng, cần có đánh giá khoa học đầy đủ trước khi cấm hoặc hạn chế một số loài có giá trị kinh tế.
Tại hội nghị, ông cũng kêu gọi các nhà khoa học tăng cường công bố quốc tế, mở rộng hợp tác với các tổ chức nghiên cứu nước ngoài và tích cực đào tạo thế hệ kế cận cho ngành côn trùng học Việt Nam. "Hãy tiếp tục viết, tiếp tục nghiên cứu và để lại tri thức cho thế hệ sau", GS.TSKH Vũ Quang Côn nhắn nhủ các nhà khoa học tại hội nghị.
GS.TSKH Vũ Quang Côn cho biết, hiện có khoảng 1.200 loài côn trùng được xếp vào nhóm sâu hại nông nghiệp, nhưng thực tế chỉ khoảng 5% trong số đó gây hại đáng kể. Phần lớn còn lại đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng là nguồn thức ăn của chim, ếch nhái, bò sát và nhiều loài khác. Đặc biệt, số lượng côn trùng thiên địch – những loài ký sinh, ăn thịt sâu hại – còn lớn gấp nhiều lần số loài gây hại. Nếu thiếu các loài thiên địch này, dịch hại sẽ bùng phát thường xuyên hơn.
Việc lạm dụng thuốc hóa học để diệt côn trùng đang gây hậu quả nghiêm trọng. Thuốc phun tràn lan không chỉ tiêu diệt sâu hại mà còn làm chết côn trùng có ích, chim, lưỡng cư và phá vỡ cân bằng sinh thái. Khi hệ sinh thái suy giảm, dịch bệnh và sâu hại càng dễ bùng phát.
Nhiều bệnh truyền nhiễm do côn trùng vẫn là thách thức lớn
Phát biểu tại Hội nghị khoa học lần thứ 12 về côn trùng, PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương cho biết các bệnh truyền nhiễm do côn trùng đang có diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng và đời sống người dân.
Theo PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh, hiện nay có hàng chục bệnh truyền qua véc-tơ như muỗi, ve, mạt… Trong đó, sốt xuất huyết, sốt rét cùng nhiều bệnh truyền nhiễm khác vẫn là những thách thức lớn đối với ngành y tế. Nhiều bệnh tuy không gây tử vong ngay nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt, sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân.
PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
Ông cho biết Việt Nam từng đối mặt với "vấn nạn" sốt rét tại nhiều khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa. Trước đây, số ca mắc lên tới hàng triệu người, nhiều trường hợp tử vong. Tuy nhiên, nhờ sự kiên trì trong công tác phòng chống dịch, đặc biệt là các biện pháp kiểm soát véc tơ truyền bệnh, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng.
"Từ hàng triệu ca sốt rét mỗi năm, hiện nay Việt Nam chỉ còn vài trăm ca và đang hướng tới mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030", PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh nói.
Theo Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, thành công này có được nhờ công tác giám sát, phát hiện sớm ca bệnh, kết hợp các biện pháp diệt muỗi truyền bệnh, sử dụng màn và hóa chất phòng chống côn trùng. Nhiều nghiên cứu về tập tính sinh học của muỗi như thời gian hoạt động, thời điểm đốt người hay môi trường sinh sống cũng giúp nâng cao hiệu quả can thiệp.
Đề cập tới bệnh sốt xuất huyết, PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh cho rằng diễn biến dịch hiện nay ngày càng khó dự báo và không còn theo quy luật chu kỳ như trước. Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao, mưa nhiều tạo môi trường thuận lợi cho muỗi phát triển.
Đặc biệt, tại các khu dân cư đông đúc, khu vực có điều kiện vệ sinh môi trường hạn chế, nguy cơ bùng phát dịch luôn ở mức cao. "Việc kiểm soát muỗi trong môi trường tự nhiên không hề dễ dàng", ông nhận định.
Theo PGS.TS.BS Hoàng Đình Cảnh, các nghiên cứu hiện nay đã xác định được véc tơ chính, véc tơ phụ cũng như tập tính sinh học của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết. Tuy nhiên, để kiểm soát dịch hiệu quả cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như diệt bọ gậy, diệt muỗi trưởng thành, phòng chống muỗi đốt và nâng cao ý thức cộng đồng.
Ông nhấn mạnh người dân giữ vai trò trung tâm trong công tác phòng bệnh. Mỗi gia đình cần chủ động xử lý môi trường sống, loại bỏ nơi sinh sản của muỗi để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Song song với đó, ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về ảnh hưởng của khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm và môi trường đến sự phát triển của muỗi nhằm phục vụ xây dựng các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn.
Theo lãnh đạo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, việc nghiên cứu sâu về vòng đời muỗi, ấu trùng và sự phát triển của virus trong cơ thể muỗi hiện đòi hỏi công nghệ sinh học phân tử hiện đại. Việt Nam đang phối hợp với nhiều viện nghiên cứu quốc tế từ Nhật Bản, Úc, Bỉ… nhằm xác định tác nhân gây bệnh và khả năng truyền bệnh của các loài muỗi, phục vụ hiệu quả hơn cho công tác phòng chống dịch trong thời gian tới.
Tô Hội