Ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của IRRI thông tin về kết quản sản xuất. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
Sáng 10/6, tại Hợp tác xã Hữu Chung, xã Tân An (Hải Phòng), Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), các địa phương và đối tác liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Hồng.
Sự kiện nhằm đánh giá kết quả vụ sản xuất đầu tiên của 4 mô hình tại Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình áp dụng công nghệ sạ hàng hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân và sử dụng phân bón cải tiến.
Sau hơn 3 tháng triển khai, các mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét cả về năng suất, lợi nhuận và giảm phát thải. Tại Hải Phòng, mô hình của Hợp tác xã Hữu Chung đạt năng suất 7,62 tấn/ha, cao hơn 25% so với phương thức cấy máy cùng giống. Lợi nhuận đạt 24,4 triệu đồng/ha, gấp hơn 6 lần so với sản xuất theo phương thức cấy máy thông thường.
Tại Hưng Yên, Hợp tác xã Liên Hiệp đạt năng suất 6,49 tấn/ha, tăng 30% so với sạ lan truyền thống. Lợi nhuận đạt 19,2 triệu đồng/ha, trong khi phương thức sản xuất cũ gần như không có lãi. Tại Ninh Bình, Hợp tác xã Nam Cường đạt năng suất 5,65 tấn/ha, tăng 28%; lợi nhuận đạt 13,2 triệu đồng/ha. Trong khi đó, sản xuất theo phương pháp sạ lan truyền thống bị thua lỗ khoảng 3,1 triệu đồng/ha.
Theo ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của IRRI, tổng hợp kết quả trên cả ba địa phương cho thấy công nghệ cơ giới hóa sạ hàng hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân (mDSR) giúp giảm hơn 30% lượng giống gieo so với sạ lan; giảm 34-44% lượng phân đạm, 34-66% phân lân và 33-39% phân kali. Nhờ đó, tổng chi phí sản xuất giảm trên 25%.
Đặc biệt, lợi nhuận bình quân đạt khoảng 21 triệu đồng/ha, tương đương khoảng 750.000 đồng/sào (360 m2), trong khi nhiều diện tích sản xuất theo phương thức sạ lan hoặc cấy truyền thống chỉ hòa vốn hoặc thua lỗ.
Thu hoạch lúa trên cánh đồng của Hợp tác xã Hữu Chung, xã Tân An (Hải Phòng) sản xuất theo công nghệ mDSR. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
Đánh giá về mô hình tại Hải Phòng, bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết, mô hình không làm thay đổi quá nhiều quy trình sản xuất truyền thống nhưng mang lại hiệu quả rất rõ rệt.
Điểm khác biệt lớn nhất là nông dân không phải làm mạ rồi cấy như trước mà thực hiện gieo sạ bằng máy ngay từ đầu. Trước đây, nhiều địa phương đã áp dụng gieo sạ nhưng chủ yếu bằng phương pháp thủ công nên mật độ cây không đồng đều, vẫn phải tốn công tỉa, dặm. Khi cơ giới hóa khâu gieo hạt, cây lúa sinh trưởng đồng đều hơn và giảm đáng kể công lao động.
Bên cạnh đó, phân bón hỗn hợp được vùi ngay trong đất từ đầu vụ thay cho việc bón nhiều lần bằng các loại phân đơn như trước đây. Giải pháp này không chỉ giúp tiết kiệm công chăm sóc mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và cân đối dinh dưỡng cho cây trồng.
“Qua theo dõi thực tế, lúa sinh trưởng tốt, cây cứng khỏe, năng suất cao. Đây là mô hình hoàn toàn có thể nhân rộng trong thời gian tới vì chỉ thay đổi một số khâu kỹ thuật nhưng mang lại hiệu quả sản xuất rất tích cực”, bà Lương Thị Kiểm nhận định.
Trên cánh đồng lúa chuẩn bị thu hoạch, ông Trần Thanh Hương, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp thôn Hữu Chung, xã Tân An cho biết, dù diện tích này được triển khai muộn hơn lịch thời vụ và chịu áp lực sâu bệnh lớn hơn, nhưng ruộng lúa vẫn phát triển tốt, cho năng suất cao hơn các diện tích cấy truyền thống.
Theo ông Hương, ưu điểm nổi bật nhất của mô hình là giảm đáng kể nhu cầu lao động. Nông dân không còn phải làm mạ - một trong những khâu tốn nhiều thời gian và nhân công nhất trong sản xuất lúa.
“Hiện nay lao động nông nghiệp ngày càng thiếu hụt do phần lớn lao động trẻ chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp. Người trực tiếp sản xuất trên đồng ruộng chủ yếu là người cao tuổi. Vì vậy, những mô hình giảm công lao động như gieo sạ bằng máy rất phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương”, ông Hương nói.
Nông dân Đoàn Văn Minh, xã Tân An cũng cho biết, trước đây địa phương đã áp dụng nhiều phương thức sản xuất khác nhau, từ gieo sạ thủ công đến cấy bằng máy. Tuy nhiên, mô hình này cho thấy hiệu quả vượt trội khi vừa giảm chi phí, giảm công lao động, vừa nâng cao năng suất so với các phương thức canh tác trước đây.
Ông Minh mong muốn Nhà nước, các cấp chính quyền và các tổ chức tiếp tục hỗ trợ về kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và tổ chức sản xuất để mô hình được nhân rộng, góp phần giảm chi phí, hạn chế tình trạng bỏ ruộng và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
Theo bà Lương Thị Kiểm, việc thay đổi tập quán canh tác lâu năm của nông dân không dễ dàng, nhưng kết quả thực tế từ mô hình tại Hợp tác xã Hữu Chung đã tạo cơ sở thuyết phục để Hải Phòng đưa mô hình vào kế hoạch nhân rộng tại các vùng sản xuất lúa trọng điểm của thành phố.
Ông Jongsoo Shin, Giám đốc Khu vực châu Á của IRRI cho biết, từ những kết quả bước đầu, IRRI kỳ vọng các địa phương sẽ có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để chủ động mở rộng mô hình.
“Mỗi hécta được nhân rộng sẽ là một đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải của ngành lúa gạo, nâng cao thu nhập cho nông dân và hiện thực hóa các cam kết khí hậu của Việt Nam”, ông Jongsoo Shin nhấn mạnh.
Các mô hình được triển khai trong khuôn khổ Dự án Sử dụng phân bón đúng (Fertilize Right) với sự hỗ trợ kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, thúc đẩy cơ giới hóa và góp phần phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững, phát thải thấp tại Việt Nam.
Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn