Sa mạc Gobi mở ra như một trang giấy khổng lồ, nơi thời gian bị gió thổi tung và lịch sử hóa thành những hạt cát. Tôi bước đi trong cái lặng im mênh mông của màu nắng vàng phủ khắp sa mạc.
Gió phả qua mặt, mang theo mùi bụi, mùi nắng cháy, mùi mồ hôi và cả mùi máu của những đoàn thương nhân đã từng đi qua nơi này hàng ngàn năm trước. Con đường Tơ lụa, cái tên nghe như một giai điệu cổ, không chỉ là một tuyến giao thương, mà còn là một mạch máu của ký ức nhân loại, vẫn âm ỉ chảy trong từng thớ đất Cam Túc, trong từng hạt cát sa mạc Gobi.
Đoàn người cưỡi lạc đà ngắm nhìn sa mạc Gobi mênh mông.
Những dặm đường đầu tiên của một huyền thoại lịch sử
Con đường Tơ lụa không phải là một tuyến đường đơn lẻ, mà là cách gọi chung cho mạng lưới giao thương liên lục địa hình thành từ khoảng thế kỷ II trước Công nguyên, dưới thời nhà Hán, và duy trì trong hơn 1.500 năm. Trung tâm khởi phát quan trọng của mạng lưới này là Trường An (nay là Tây An, Trung Quốc), kinh đô phồn thịnh bậc nhất phương Đông thời bấy giờ.
Năm 138 trước Công nguyên, sứ thần Trương Khiên được Hán Vũ Đế cử đi sứ sang các vùng Trung Á nhằm thiết lập liên minh và mở rộng giao thương. Chuyến đi này, dù trải qua nhiều biến cố, đã góp phần khai mở các tuyến kết nối giữa Trung Hoa với Trung Á và xa hơn nữa về phía Tây.
Từ đó, các tuyến đường thương mại dần hình thành và phát triển thành một mạng lưới rộng lớn. Những đoàn lữ hành mang theo lụa, gốm sứ, trà, giấy… từ phương Đông, đổi lấy ngựa, thủy tinh, hương liệu và đá quý từ phương Tây.
Họ băng qua hành lang Hà Tây, đi qua Đôn Hoàng, vượt dãy Thiên Sơn, xuyên qua các sa mạc Gobi và Taklamakan, rồi tiếp tục men theo Trung Á, Ba Tư và Tiểu Á để đến khu vực Địa Trung Hải.
Không chỉ dừng lại ở tuyến đường bộ, các nhánh giao thương còn mở rộng sang Đông Á như bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản và xuống Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, thông qua cả đường biển và đường bộ. Chính vì vậy, nhiều học giả ngày nay cho rằng nên gọi đây là “các tuyến đường Tơ lụa” để phản ánh đúng tính chất đa tuyến của hệ thống này.
Sa mạc Gobi nối nhau bằng những cồn cát.
Người ta còn gọi đó là “Con đường của những giấc mơ”. Nhưng với những ai từng đi qua, nó còn là con đường của khát vọng và cái chết. Nhiều thương nhân đã bỏ xác giữa hoang mạc, những đoàn lạc đà mất hút trong bão cát, những thành phố phồn hoa hóa thành di tích.
Và chính trên mảnh đất Cam Túc này, nơi gặp gỡ giữa văn hóa Hoa Hạ, Phật giáo Ấn Độ và văn hóa Hồi giáo, Con đường Tơ lụa đã tạo nên một bản giao hưởng văn minh rực rỡ chưa từng có.
Lạc đà chở du khách trong cái nắng nóng của sa mạc.
Dấu ấn thời gian nơi ngã ba văn hóa
Vùng đất Đôn Hoàng là trái tim của tuyến đường ấy. Ở đây, những nhà sư Ấn Độ dừng chân trên hành trình mang kinh Phật sang Đông độ; những thương nhân Ba Tư dựng lều trại buôn lụa, hương liệu và ngọc thạch, các loại đá quý; còn những họa sư Trung Hoa khắc họa hình Phật, thần linh và cả những người lữ hành trên tường của quần thể hang Mạc Cao. Trong ánh sáng mờ ảo của những hang động, ta có thể thấy cả thế giới hội tụ, nơi mà tín ngưỡng, nghệ thuật và thương mại cùng tồn tại, cùng chuyển động, cùng giao thoa và cùng để lại cho hậu thế một kho tàng văn hóa vô giá.
Có một điều kỳ diệu là dù những cuộc chiến tranh bùng nổ, triều đại đổi thay hay tôn giáo xiển dương, dòng người trên Con đường Tơ lụa chưa bao giờ ngừng lại. Từ Hán đến Đường, từ Tống, Nguyên đến Minh Thanh, những đoàn lữ khách châu Âu thời Marco Polo, họ đều đi qua Cam Túc, mang theo những câu chuyện, món ăn, âm nhạc và cả tình yêu.
Tôi dừng lại ở thành phố Trương Dịch, nơi từng là “then cửa phía Tây”của đất nước Trung Hoa cổ, nơi có những con lạc đà đã xuất phát cho những chuyến đi không hẹn ngày trở lại. Bầu trời Cam Túc lúc hoàng hôn như được dệt bằng thứ lụa đỏ ánh lên màu vàng của quá khứ xa xưa. Trong gió, tôi như nghe thấy những âm thanh của quá khứ. Đó là tiếng bánh xe gỗ nghiến lên sỏi đá, tiếng kèn đồng của đoàn sứ giả và xa xa là tiếng niệm kinh của những nhà sư Tây Vực…
Tác giả Hà Thanh Vân cưỡi trên lưng lạc đà.
Lạc đà còn đi mãi trên sa mạc
Sa mạc Gobi mở ra trước mắt tôi như một biển vàng tĩnh lặng. Không một giọt nước, không một bóng cây, chỉ có gió, thứ gió mang mùi cát cháy, mùi muối mặn của thời gian, mùi bước chân của không biết bao nhiêu thương nhân đã từng qua đây, thậm chí đã bỏ xác lại nơi này vì bão cát, vì lạc đường, vì đói khát và những cơn ảo ảnh sa mạc. Mặt trời treo trên đỉnh trời như một đồng tiền cổ mà vẫn lóe sáng, tuy mòn vẹt bởi hàng ngàn năm lịch sử, vẫn soi chiếu lên những dấu chân lạc đà nhòe dần trong cát.
Tại đây có dịch vụ cho những du khách tò mò muốn biết cảm giác cưỡi lạc đà là như thế nào. Giá cả cũng khá dễ chấp nhận, khoảng 100 tệ cho một du khách, tương đương gần 400.000 đồng cho khoảng 1 tiếng đồng hồ lắc lư trên lưng lạc đà.
Những du khách ngồi lắc lư trên lưng lạc đà băng qua sa mạc nóng bỏng.
Tôi ngồi trên lưng một chú lạc đà. Lạc đà có người dắt và đi thành từng đoàn riêng biệt. Đầu tiên là nó nằm để du khách leo lên yên, sau đó là đứng dậy theo hiệu lệnh của người dắt. Lạc đà không đứng bốn chân cùng một lúc, mà đứng từng hai chân. Khoảng cách từ trên yên nhìn xuống mặt cát sa mạc khá cao và chuyện cưỡi lạc đà không dành cho những người yếu bóng vía.
Những chú lạc đà bước đi chậm rãi và kiêu hãnh, đôi mắt phủ một lớp bụi vàng như mang theo nỗi nhớ của cát. Bước đi của nó giống như tiếng thời gian đang cựa mình. Mỗi nhịp chân, mỗi tiếng chuông nhỏ đung đưa bên cổ, như vọng lại tiếng lục lạc của đoàn người do Trương Khiên dẫn dắt từ hai ngàn năm trước. Tôi ngồi lắc lư trên lạc đà, lúc đầu không quen, tay bám chặt vào chỗ vịn phía trước. Nhưng chỉ một lát sau, tôi làm quen rất nhanh với sự lắc lư đó, thậm chí có thể bỏ cả hai tay để tranh thủ quay phim, chụp ảnh, dù rằng những người dắt lạc đà lớn tiếng ngăn cấm không cho dùng điện thoại. Họ sợ du khách bất cẩn ngã xuống thì có thể bị nguy hiểm.
Con đường Tơ lụa như sợi chỉ vàng nối liền phương Đông và phương Tây, bây giờ chỉ còn là một khái niệm trong những cuốn sách về lịch sử, văn hóa, khảo cổ, nhưng ở nơi này, nó hiện hữu trong từng hạt cát, từng cơn gió, từng tiếng thở dài khe khẽ của sa mạc Gobi mỗi khi chiều xuống.
Không còn biên giới giữa hiện tại và quá khứ. Giữa tôi, một du nữ của thế kỷ XXI và những kẻ từng đi qua nơi này cách đây hàng ngàn năm, chỉ là một khoảng thở dài của cát và gió. Tôi chợt nghĩ có thể ngàn năm trước, một người Ba Tư cũng đã ngồi trên lưng lạc đà như thế này, cũng nhìn sao trời trên sa mạc, cũng mơ về một ngày trở lại quê hương. Chỉ khác là, tôi đi tìm quá khứ, còn họ đi về tương lai.
Tác giả Hà Thanh Vân tạo dáng bên cát sa mạc Gobi.
Những chú lạc đà trở về sau chuyến đi ngắn của tôi trên sa mạc, bóng chúng đổ dài trên cát. Tôi nghĩ đến ngàn năm trước, những con người cưỡi trên lưng lạc đà đi qua cát gió sa mạc ròng rã hàng năm trời. Và tôi khâm phục họ. Tôi chỉ ngồi trên lưng lạc đà với sự hào hứng trải nghiệm của một du khách thời hiện đại, với đủ mọi phương tiện xung quanh mình, còn họ, đó là sự mưu sinh, là sự dấn mình ra với thế giới xa lạ và đầy hiểm nguy, bất trắc. Tiếng gió vẫn thổi qua những đụn cát như những lời kinh cầu nguyện, trầm mặc mà bền bỉ.
Lạc đà ở sa mạc Gobi nhỏ hơn và đáng yêu hơn hẳn những chú lạc đà ở sa mạc Trung Đông. Tôi đã từng đi Dubai và Abu Dhabi, từng đi xe Land Cruiser trải nghiệm tay lái lụa trên sa mạc với cảm giác thử thách đầy phấn khích và thử cưỡi lạc đà. Lạc đà ở Trung Đông thì to cao lênh khênh, nhìn những du khách với con mắt đầy vẻ coi thường, như những sinh vật đang làm phiền nó. Còn tại sa mạc Gobi, những chú lạc đà thân thiện cho du khách tha hồ chụp ảnh chung và thẳm sâu trong đôi mắt của chúng, vẫn lấp lánh một nỗi buồn sa mạc.
Ở Cam Túc, có thể thấy thú bông lạc đà bán lưu niệm khắp mọi nơi. Tôi cũng mua về hai chú lạc đà bông nhìn rất đáng yêu và thầm mong sẽ có ngày trở lại với gió cát nơi này. Tôi nhận ra rằng, đi tìm dấu tích người xưa cũng là đi tìm sự kết nối của chính mình với lịch sử. Mỗi bước chân trên cát là một nhịp trở về, không chỉ với thế giới bên ngoài mà còn với thế giới nội tâm.
Trong thời đại của tàu cao tốc, của Internet và trí tuệ nhân tạo, vẫn có những người như tôi, một du nữ đơn độc, chọn bước đi để lắng nghe tiếng thì thầm của cát, của gió, của những ký ức cổ xưa đang tan vào ánh hoàng hôn buổi chiều. Cát vẫn chuyển động dưới chân tôi như thể mặt đất đang thở. Và tôi hiểu Con đường Tơ lụa không bao giờ mất đi, nó chỉ thay đổi hình hài, đi vào trong mỗi con người lãng du, mỗi cuộc hành trình, mỗi câu chuyện kể.
Hà Thanh Vân