Ngày 28/2/2026, tại Quyết định số 363/QĐ-BCT, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia)
=Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 738/QĐ-TTg ngày 25/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ chấm dứt hiệu lực thi hành Quyết định số 893/QĐ-TTg ngày 26/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Quyết định số 893/QĐ-TTg hết hiệu lực kể từ ngày 28/2/2026.
Trước đó, ngày 28/2/2026, tại Quyết định số 363/QĐ-BCT, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia) để phù hợp với sự điều chỉnh mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; sự thay đổi điều chỉnh địa giới hành chính cũng như sự phát triển của khoa học, công nghệ…
Theo đó, Điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia bao gồm các phân ngành: Dầu khí, than, điện, năng lượng mới và tái tạo với các nhiệm vụ từ điều tra cơ bản, tìm kiếm thăm dò, khai thác, sản xuất, tồn trữ, phân phối đến sử dụng và các hoạt động khác có liên quan.
Về mục tiêu cụ thể liên quan đến bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, theo Điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia, cần cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân tối thiểu 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 (Tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng đạt khoảng 120 - 130 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030, định hướng đạt khoảng 175 - 200 triệu tấn dầu quy đổi đến năm 2050; Tổng cung cấp năng lượng sơ cấp đạt khoảng 150 - 170 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030, định hướng đạt khoảng 210 - 250 triệu tấn dầu quy đổi đến năm 2050); Phấn đấu đạt tổng mức dự trữ xăng dầu cả nước (bao gồm cả dầu thô và sản phẩm) lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030.
Về chuyển đổi năng lượng công bằng, tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp cần đạt khoảng 25 - 30% năm 2030 và khoảng 70 - 80% năm 2050; Tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 8 - 10% vào năm 2030 so với kịch bản phát triển bình thường; Giảm phát thải khí nhà kính 15 - 35% vào năm 2030 so với kịch bản phát triển bình thường. Mức thải khí nhà kính lĩnh vực năng lượng khoảng 433 - 474 triệu tấn CO2 tương đương năm 2030 và khoảng 101 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2050. Hướng tới đạt mức phát thải đỉnh vào năm 2030 với điều kiện các cam kết theo Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất.
Về phát triển ngành công nghiệp năng lượng, các đơn vị cần khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước. Trong đó, sản lượng khai thác dầu thô giai đoạn 2026 - 2030 đạt 5,8 - 8,0 triệu tấn/năm, giai đoạn 2031 - 2035 đạt 6,0 - 10,0 triệu tấn/năm. Định hướng giai đoạn 2036 - 2050 đạt 4,8 - 7,8 triệu tấn/năm; Sản lượng khai thác khí tự nhiên giai đoạn 2026 - 2030 đạt 5,4 - 11,0 tỷ m³/năm; giai đoạn 2031 - 2035 đạt 9,0 - 15,0 tỷ m³/năm. Định hướng giai đoạn 2036 - 2050 đạt 14,0 - 18,8 tỷ m³/năm; Phát triển đầy đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) theo nhu cầu cấp cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác, hình thành các trung tâm năng lượng tập trung kho khí LNG hài hòa các vùng miền; Phát triển đầy đủ, đồng bộ kết cấu hạ tầng phân ngành than theo hướng liên thông giữa các khu vực và liên kết với hệ thống kết cấu hạ tầng của các ngành, lĩnh vực khác có liên quan trên phạm vi vùng lãnh thổ.
Tập trung phát triển ngành công nghiệp năng lượng hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng sạch và xuất khẩu năng lượng tái tạo của khu vực, hình thành và phát triển các trung tâm năng lượng tái tạo tại các vùng và các địa phương có lợi thế.
Phấn đấu đến năm 2030, hình thành và phát triển một số trung tâm năng lượng sạch bao gồm sản xuất và sử dụng năng lượng, công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, chế biến dầu khí, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ liên quan tại Vùng Đồng bằng sông Hồng, Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đông Nam Bộ khi có các điều kiện thuận lợi.
Phát triển sản xuất năng lượng mới phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2030, quy mô công suất sản xuất hydrogen xanh khoảng 100 - 200 nghìn tấn/năm. Định hướng đến năm 2050 quy mô công suất sản xuất hydrogen xanh khoảng 10 - 20 triệu tấn/năm.
Thy Thảo