Giá trị lịch sử, nghệ thuật và văn hóa
Khác với nhiều quốc gia phải phục dựng bản sắc từ những dấu vết rời rạc, văn hóa Việt Nam với 54 dân tộc đa dạng và phong phú đang được thực hành, lưu truyền trong đời sống cộng đồng, từ tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tín ngưỡng đến tri thức dân gian, nghề thủ công, ẩm thực…
Theo ThS. Ninh Thị Thương, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, di sản văn hóa các dân tộc thiểu số không chỉ phản ánh sinh động đời sống văn hóa, xã hội mà còn chứa đựng giá trị lịch sử, nghệ thuật, văn hóa góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc.
Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số - nguồn lực cho sáng tạo
Đến nay, trong 17 di sản văn hóa Việt Nam đã được UNESCO ghi danh có 4 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Đó là: không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; nghệ thuật xòe Thái; thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam; nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Bên cạnh đó, 127 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thuộc về các tộc người thiểu số, cùng hàng trăm thực hành văn hóa vẫn đang tồn tại bền bỉ trong cộng đồng. Chính yếu tố “sống” này tạo nên giá trị đặc biệt: di sản không bị đóng khung mà luôn vận động, thích ứng và có khả năng truyền cảm hứng cho sáng tạo mới.
Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ngày càng được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa đặc biệt, có khả năng chuyển hóa thành nguồn lực cho phát triển nếu được khai thác hợp lý, bảo đảm tính xác thực và giá trị nguyên gốc.
Thực tiễn trong khoảng một thập niên trở lại đây, nhiều địa phương vùng cao, các tổ chức, cá nhân đã chủ động kích hoạt nguồn vốn này thông qua các mô hình phát triển kinh tế gắn với văn hóa.
Công nghiệp văn hóa - không gian phát triển mới
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025, nêu rõ 10 ngành trong lĩnh vực này. Đây chính là những không gian để văn hóa dân tộc thiểu số được tái hiện và lan tỏa.
Một trong những biểu hiện rõ nhất là sự phát triển mạnh mẽ của du lịch cộng đồng. Từ các bản làng vùng núi phía Bắc đến Tây Nguyên, nhiều không gian cư trú truyền thống đã được tái định vị như những không gian trải nghiệm văn hóa. Các sản phẩm du lịch từ tham quan đơn thuần, mở rộng thành trải nghiệm: lưu trú trong nhà truyền thống, tham gia dệt vải, nấu ăn, thưởng thức nghệ thuật dân gian, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ tri thức bản địa… Những mô hình ở Lô Lô Chải hay Sin Suối Hồ, Bản Lác… cho thấy hướng đi bảo tồn nguyên bản để tạo giá trị khác biệt, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ văn hóa hoàn chỉnh.
Bản sắc văn hóa các dân tộc - nguồn lực phát triển các ngành công nghiệp văn hóa
GS. TS. Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam nhấn mạnh: kho tàng nghệ thuật dân gian của các dân tộc là nguồn tài nguyên dồi dào cho sáng tạo; từ các nghi lễ, trò diễn, dân ca… các nghệ sĩ có thể khai thác để tạo nên những tác phẩm sân khấu, âm nhạc, điện ảnh mang dấu ấn riêng. “Một mặt đem lại thành công sáng tạo, mặt khác góp phần bảo tồn giá trị truyền thống trong đời sống đương đại”.
Trong thời trang, thổ cẩm của đồng bào một số dân tộc đã trở thành chất liệu thiết kế cao cấp, giúp các nhà thiết kế thời trang làm vẻ vang văn hóa dân tộc trên trường quốc tế. Trong điện ảnh, bối cảnh núi rừng, đời sống Tây Bắc, Tây Nguyên hay miền Trung mang lại chiều sâu thị giác và bản sắc cho các tác phẩm. Với âm nhạc, sự kết hợp giữa nhạc cụ dân tộc và âm nhạc hiện đại tạo ra những sản phẩm mang phong cách riêng biệt, thu hút khán giả.
Kho tàng văn hóa của các dân tộc chính là “ngân hàng nội dung” cho game Việt. TS. Nguyễn Thị Thanh Vân, Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, trong bối cảnh thị trường toàn cầu ngày càng ưa chuộng nội dung bản địa hóa, cùng với sự phát triển của công nghệ số như AI, AR/VR, mobile gaming, Việt Nam có cơ hội xây dựng các sản phẩm game mang bản sắc riêng, góp phần tạo “quyền lực mềm”. Điều này cho phép nước ta phát triển game văn hóa mang tính trải nghiệm cao, tái hiện văn hóa (lễ hội, sử thi, không gian) bằng công nghệ số cũng như tạo cơ hội riêng của game văn hóa trong việc gắn với giáo dục, du lịch và phát triển hệ sinh thái sáng tạo…
“Cú hích” thể chế và vai trò của cộng đồng
Sự tham gia của di sản vào thị trường sáng tạo mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Nguy cơ lớn nhất là thương mại hóa quá mức, dẫn đến “biểu diễn hóa” di sản khi các thực hành văn hóa bị giản lược, sân khấu hóa, mất đi tính nguyên bản. Bên cạnh đó, không ít trường hợp cộng đồng - chủ thể của di sản - chưa được hưởng lợi tương xứng từ quá trình khai thác. Một rào cản khác nằm ở năng lực: tại nhiều vùng sâu, vùng xa, vẫn thiếu nguồn nhân lực có khả năng kết nối văn hóa, thị trường và công nghệ. Di sản có, nhưng thiếu “cầu nối” để bước vào chuỗi giá trị.
Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn liền với quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Ảnh; Minh Hiển
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh: chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, thí điểm các mô hình kinh doanh văn hóa gắn với nền tảng số, khuyến khích đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 80, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam sẽ được trình Quốc hội khóa XVI cho ý kiến ngay đầu đợt 2, Kỳ họp thứ Nhất, với điều khoản riêng cho văn hóa dân tộc thiểu số. Đó là hỗ trợ tài chính, có cơ chế, chính sách đặc thù cho văn hóa dân tộc thiểu số; phát huy vai trò chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững…
Trong thế giới toàn cầu hóa, sự khác biệt, tính bản địa, chiều sâu lịch sử và bản sắc đang trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Bởi vậy, khi được sống trong cộng đồng, sáng tạo trong thị trường, và bảo vệ, thúc đẩy từ thể chế, di sản văn hóa các dân tộc thiểu số sẽ được lưu giữ, lan tỏa và đóng góp xứng đáng vào sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.
Ngọc Phương