Châu Âu cần một nghìn tỷ USD để vực dậy ngành công nghiệp quốc phòng

Châu Âu cần một nghìn tỷ USD để vực dậy ngành công nghiệp quốc phòng
31 phút trướcBài gốc
Tiêm kích Rafale của hãng chế tạo máy bay Pháp Dassault - Ảnh: Getty Images
Những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về việc sáp nhập Greenland vào Mỹ đang khiến các nước đồng minh của Mỹ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) lo ngại và đặt ra câu hỏi: nếu quan hệ xuyên Đại Tây Dương rạn nứt sâu hơn, liệu châu Âu có đủ năng lực tự sản xuất vũ khí để tác chiến mà không phải dựa vào Mỹ hay không.
CẦN KHOẢNG MỘT NGHÌN TỶ USD
Giới phân tích và các nghị sĩ nhìn chung cho rằng châu Âu có thể tiến tới mục tiêu này, nhưng sẽ cần thời gian. Ngành công nghiệp quốc phòng của khu vực này, vốn bị đánh giá là ì ạch trong nhiều năm, đang đẩy mạnh sản xuất máy bay không người lái, xe tăng, đạn dược và các loại vũ khí khác với tốc độ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ. Điều này diễn ra trong bối cảnh châu Âu đối mặt căng thẳng với Nga và bất đồng gia tăng trong quan hệ với Mỹ.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng châu Âu vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), chi phí để thay thế trang bị và lực lượng Mỹ đang hiện diện tại châu Âu là khoảng 1 nghìn tỷ USD. Khu vực này cũng chưa tự chủ ở một số năng lực then chốt, gồm máy bay chiến đấu tàng hình, tên lửa tầm xa và năng lực tình báo vệ tinh.
Những năm gần đây, sản xuất quốc phòng ở châu Âu có xu hướng gia tăng nhưng ngành này vẫn phân mảnh nên quy mô và năng lực khó sánh kịp với các doanh nghiệp Mỹ - nhóm được hậu thuẫn bởi ngân sách quân sự lớn nhất thế giới.
Dù vậy, làn sóng tăng chi tiêu quân sự trên khắp châu Âu, cùng việc đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đang kéo châu lục này đến gần mục tiêu tự chủ về năng lực tác chiến. Ở một số mảng, tiến độ diễn ra nhanh hơn dự kiến.
Vào cuối năm 2024, doanh nhân Clemens Kurten lập một công ty cung cấp máy bay không người lái cho quân đội các nước châu Âu khi thậm chí chưa có thiết kế hoàn chỉnh hay đội ngũ nhân sự. Nhưng chỉ sau một năm, công ty Đức có tên Twentyfour Industries này đã bán ra hàng trăm thiết bị.
Sức ép với châu Âu trong việc tìm cách ứng phó với hướng đi của Mỹ đang tăng lên, không chỉ xoay quanh Greenland mà còn liên quan tới tương lai của cấu trúc an ninh rộng hơn đã gắn kết Washington với châu Âu từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
“Nếu Mỹ bắt đầu giảm hiện diện trên lục địa châu Âu... dĩ nhiên chúng tôi phải bắt đầu tính toán cách xây dựng một ‘trụ cột châu Âu’ trong NATO”, ông Andrius Kubilius, quan chức Liên minh châu Âu (EU) phụ trách thúc đẩy phục hồi ngành công nghiệp quốc phòng, phát biểu hôm thứ Tư tuần trước tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, Thụy Sỹ.
Theo ông Kubilius, điều đó đồng nghĩa châu Âu phải từng bước tự chủ về hệ thống bảo đảm năng lực tác chiến mà hiện vẫn phụ thuộc vào Mỹ, như hệ thống vệ tinh.
Thời gian qua, Tổng thống Trump nhiều lần thúc giục châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Trong bối cảnh Mỹ ngày càng dồn trọng tâm sang Mỹ Latin và châu Á, một số nhà phân tích cho rằng Washington có thể điều chuyển một phần khí tài khỏi châu Âu.
Gần đây, các bất đồng giữa Nhà Trắng và châu Âu về vấn đề Ukraine, rồi tới Greenland, càng làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ có thể ngừng cung cấp vũ khí do Mỹ sản xuất, thậm chí hạn chế châu Âu sử dụng cả những hệ thống đã mua từ Mỹ.
Cũng tại Davos vào thứ Tư tuần trước, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb cho biết phi đội tiêm kích do Mỹ sản xuất, đang phục vụ trong không quân Phần Lan, khó có thể vận hành lâu dài nếu thiếu phụ tùng thay thế và các bản cập nhật phần cứng từ Mỹ.
Vì vậy, Phần Lan phải đặt niềm tin rằng Washington sẽ tiếp tục hỗ trợ để các máy bay này duy trì hoạt động - và ông Stubb cho rằng điều đó cũng mang lại lợi ích cho Mỹ.
TĂNG TỐC TỰ CHỦ QUỐC PHÒNG
Theo nhiều lãnh đạo doanh nghiệp quốc phòng châu Âu, nỗ lực xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ ở châu lục này đang ngày càng tăng tốc.
Ông Kurten, giám đốc điều hành Twentyfour Industries, cho biết công ty có thể nhanh chóng đi vào sản xuất nhờ nhà đầu tư châu Âu sẵn sàng rót vốn cho doanh nghiệp quốc phòng, nguồn nhân lực chấp nhận gia nhập lĩnh vực này và các cơ quan mua sắm công ra quyết định nhanh hơn.
“Cách đây 5 năm, điều này không thể xảy ra”, ông Kurten nói với tờ báo Wall Street Journal. Trước khi cùng một cộng sự thành lập Twentyfour Industries, ông làm tư vấn về máy bay không người lái.
Các lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng xu hướng này còn được tiếp sức bởi đợt tăng chi tiêu quân sự mạnh nhất của châu Âu kể từ thời Chiến tranh Lạnh.
Theo ước tính của các nhà phân tích tại công ty chứng khoán Bernstein, năm ngoái châu Âu chi khoảng 560 tỷ USD cho quốc phòng, gấp đôi so với 10 năm trước. Bernstein dự báo vào năm 2035, chi tiêu quốc phòng của khu vực này sẽ đạt mức tương đương 80% của Mỹ, tăng từ mức dưới 30% vào năm 2019.
Nếu châu Âu chuyển sang ưu tiên vũ khí tự sản xuất, ngành quốc phòng Mỹ có thể chịu tác động lớn. Theo nhóm nghiên cứu Agency Partners có trụ sở tại Anh, châu Âu đóng góp tới 10% doanh thu của các nhà sản xuất quốc phòng Mỹ.
Một số doanh nghiệp châu Âu đã tăng tốc nâng cao công suất. Hãng công nghiệp quốc phòng Rheinmetall của Đức đã mở hoặc đang xây dựng tổng cộng 16 nhà máy mới kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine vào tháng 2/2022. Tập đoàn quốc phòng Leonardo của Italy cũng tăng gần 50% nhân sự lên 64.000 người chỉ trong hơn 2 năm.
Vào mùa xuân năm ngoái, MBDA - nhà sản xuất tên lửa lớn nhất châu Âu - đã nâng công suất lên tên lửa phòng không tầm ngắn Mistral lên 40 quả/tháng, từ 10 quả trước khi xung đột ở Ukraine nổ ra, đồng thời tăng gấp đôi sản lượng tên lửa chống tăng lên 40 quả/tháng.
Các nhà sản xuất máy bay không người lái như Twentyfour Industries đang mọc lên trên khắp châu Âu. Trong mảng robot không người lái trên mặt đất, Estonia - một quốc gia nhỏ ở vùng Baltic 0 hiện là nước dẫn đầu thị trường toàn cầu.
Ở một số hạng mục, năng lực sản xuất của châu Âu thậm chí đã vượt Mỹ. Riêng hãng Rheinmetall dự kiến sớm đạt công suất 1,5 triệu quả đạn pháo cỡ 155 mm mỗi năm, cao hơn tổng công suất của toàn ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ.
Châu Âu cũng gần như tự chủ nguồn cung xe bọc thép, trong đó xe tăng Leopard của Đức là dòng phổ biến nhất thế giới. Khu vực này có thể tự sản xuất tàu mặt nước và tàu ngầm với các mẫu tàu này bán chạy trên thị trường quốc tế hơn các sản phẩm tương đương của Mỹ.
Xe tăng Leopard của Lục quân Ba Lan trong cuộc tập trận của các nước NATO tại một căn cứ quân sự ở Latvia năm ngoái - Ảnh: EPA/Shutterstock
Một số tín hiệu cho thấy vài quốc gia châu Âu đang nghiêng về vũ khí do khu vực sản xuất thay vì hàng do Mỹ chế tạo. Giai đoạn 2020-2024, 79% nhập khẩu quốc phòng của Đan Mạch đến từ Mỹ. Tuy nhiên năm ngoái, khi ông Trump gia tăng sức ép với Đan Mạch liên quan tới Greenland, hơn một nửa kim ngạch nhập khẩu mua sắm vũ khí của nước này lại đến từ châu Âu. Copenhagen phủ nhận đây là chủ trương có chủ đích.
CÒN NHIỀU VIỆC PHẢI LÀM
Tuy nhiên, ông Pieter Wezeman, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), cho rằng châu Âu vẫn chưa đạt được bước ngoặt thực sự trong việc phân ly với Mỹ. Một số quan chức quốc phòng châu Âu cũng cho rằng doanh nghiệp quốc phòng trong khu vực chưa phát triển đủ nhanh, đặc biệt ở lĩnh vực hàng không - vũ trụ.
Hãng chế tạo máy bay Dassault của Pháp hiện còn tồn đọng 220 đơn đặt hàng tiêm kích Rafale. Năm ngoái, công ty này bàn giao trung bình 2 chiếc mỗi tháng, trong đó mỗi máy bay mất khoảng 3 năm để hoàn thiện. Dassault cho biết năm nay sản lượng của công ty dự kiến tăng lên 3 chiếc mỗi tháng.
Ông Roberto Cingolani, giám đốc điều hành tập đoàn quốc phòng Leonardo, cho rằng một rào cản lớn khiến châu Âu tái vũ trang chậm là tình trạng phân mảnh của ngành này.
“Quốc gia nào cũng muốn có xe tăng riêng, máy bay riêng, tàu chiến riêng. Nhưng việc đầu tư, nghiên cứu - phát triển và mua sắm bị chia nhỏ như vậy không có lợi cho tiến trình tái thiết ngay quốc phòng của khu vực”, ông Cingolani nói trong một cuộc phỏng vấn với Wall Street Journal
Bên cạnh đó, châu Âu cũng tồn tại khoảng trống năng lực. Theo các nhà phân tích, khu vực này cần ít nhất 10 năm nữa mới có thể tự sản xuất được tiêm kích tàng hình. Châu Âu cũng tụt hậu hơn so với Mỹ về tình báo vệ tinh và hầu hết các nước đang dựa vào doanh nghiệp Mỹ trong mảng điện toán đám mây để vận hành và quản lý dữ liệu chiến trường.
Dù Đức phát minh tên lửa đạn đạo từ hơn 80 năm trước, châu Âu hiện hầu như không còn năng lực sản xuất loại vũ khí quan trọng này, cũng như các dòng tên lửa tầm rất xa khác. Vì vậy, hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa của Mỹ vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều quốc gia châu Âu.
Một số quốc gia châu Âu đang tìm cách lấp các khoảng trống năng lực. Nhiều dự án được triển khai nhằm phát triển tên lửa có tầm bắn trên 1.000 dặm, tương đương khoảng 1.600 km, sau năm 2030. Anh gần đây cũng thiết lập chòm vệ tinh quân sự riêng, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ, trong khi một số nước châu Âu khác tăng hiện diện trên quỹ đạo. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron gần đây cho biết 2/3 nguồn tình báo vệ tinh của Ukraine hiện đến từ Pháp.
“Châu Âu có thể tự trang bị vũ khí không? Có, nhưng cần thời gian. Quy mô hiện tại chưa đủ lớn và ở một số mảng, chất lượng cũng chưa tốt bằng sản phẩm của Mỹ”, ông Matthew Savill, giám đốc tại viện nghiên cứu Royal United Services Institute (RUSI), nhận xét.
Hoài Thu
Nguồn VnEconomy : https://vneconomy.vn/chau-au-can-mot-nghin-ty-usd-de-vuc-day-nganh-cong-nghiep-quoc-phong.htm