Một nhà máy nhựa tái chế đạt chuẩn chất lượng. Ảnh: DN
Quy định 2025/40 mới được Liên minh châu Âu (EU) ban hành đưa ra nhiều giải pháp khuyến khích và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn đối với bao bì, bao gồm việc yêu cầu tỷ lệ nhựa tái chế nhất định đối với các loại bao bì có sử dụng nhựa, bao gồm bao bì sơ cấp, thứ cấp và cả bao bì trực tiếp tiếp xúc với thực phẩm.
Lộ trình thực hiện quy định này bắt đầu từ năm 2030, với tỷ lệ nhựa tái chế riêng biệt cho mỗi loại bao bì. Trong đó, bao bì nhựa PET tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm phải có ít nhất 30% tỷ lệ nhựa tái chế, các loại bao bì nhựa khác duy trì tỷ lệ từ 10%, nâng dần lên 25% vào năm 2040.
Như vậy, để xuất khẩu hàng hóa vào EU kể từ năm 2030, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật như thông thường mà còn phải đáp ứng tiêu chí về sử dụng nhựa tái chế trong bao bì nhựa.
Đáng chú ý hơn, vật liệu nhựa tái chế dùng làm bao bì cũng cần phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng để đáp ứng những yêu cầu sẵn có của thị trường. Đây là thách thức không nhỏ trong bối cảnh ngành công nghiệp nhựa tái chế chất lượng cao chưa thực sự phát triển.
Đây là thách thức không nhỏ trong bối cảnh ngành công nghiệp nhựa tái chế tại Việt Nam chưa thực sự phát triển, với một số ít cái tên hiếm hoi như Nhựa tái chế Duytan, Nhựa tái chế Lam Trân đang có sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn ở các thị trường quốc tế.
Trong khi đó, ngành công nghiệp sản xuất nhựa nguyên sinh phát triển rất mạnh mẽ với khoảng trên 4.000 doanh nghiệp đang hoạt động, tập trung nhiều ở khu vực phía Nam. Đây cũng là ngành chứng kiến tốc độ tăng trưởng doanh thu cao, thường rơi vào ngưỡng hai con số mỗi năm.
Nhựa tái chế vừa là giải pháp cho bao bì xuất khẩu sang châu Âu, vừa là lời giải cho điểm yếu cố hữu của ngành nhựa là phụ thuộc rất lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu, khi nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu sản xuất.
Nhằm đảm bảo ổn định đầu vào sản xuất cũng như thực hành các tiêu chuẩn bền vững, theo ông Hoàng Đức Vượng, Phó chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), nhiều doanh nghiệp nhựa đang có mong muốn đầu tư xây dựng nhà máy nhựa tái chế đạt chuẩn với công nghệ cao và quy trình bài bản.
Ông Hoàng Đức Vượng, Phó chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam. Ảnh: Hoàng Anh.
Tuy nhiên, mong muốn này vấp phải nhiều thách thức khi nhựa tái chế có chất lượng không đồng đều, dẫn đến khách hàng thường ưu tiên nhập khẩu nhựa nguyên sinh. Chỉ những thời điểm như hiện tại, khi giá dầu tăng cao kéo theo giá nhựa nguyên sinh, thị trường nhựa tái chế trên toàn cầu mới chứng kiến sự sôi động.
Thách thức tiếp theo được ông Vượng chỉ ra là doanh nghiệp khó tìm được địa điểm đặt nhà máy nhựa tái chế. “Không có một khu công nghiệp nào quy hoạch mã ngành dành cho ngành tái chế cả”, ông Vượng nói với TheLEADER.
Phó chủ tịch VPA cho biết, nhiều địa phương chủ yếu chỉ quy hoạch “khu xử lý chất thải rắn”, thực chất là bãi chôn lấp hoặc “cao cấp” hơn là đốt rác phát điện. Trong khi đó, các khu công nghiệp thường từ chối doanh nghiệp tái chế do “không có mã ngành” hoặc sâu xa hơn là định kiến tái chế sử dụng công nghệ thấp và “không sạch”.
Chưa kể đến việc chi phí sản xuất nhựa tái chế tương đối cao, trong bối cảnh chính sách phân loại rác thải tại nguồn chưa được thực thi một cách triệt để. Thực tế, phế liệu nhựa vẫn “trôi” về các làng nghề tái chế không đảm bảo quy trình, gây ô nhiễm và tạo ra sản phẩm kém chất lượng.
Những năm trở lại đây, Nhà nước định hướng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, trong đó tái chế được xem là một hướng giải pháp. Nhiều đề án, nghị quyết được ban hành, tuy nhiên, cần phải tháo gỡ những nút thắt để thực sự phát triển ngành công nghiệp tái chế.
Ông Vượng đề xuất, cần phải cấp mã ngành tái chế cho các khu công nghiệp hiện hữu hoặc quy hoạch những khu vực riêng chuyên phục vụ tái chế trong các khu công nghiệp, qua đó thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam.
“Đây là yêu cầu cấp thiết bởi ngành công nghiệp tái chế đảm bảo cho chúng ta có sẵn nguồn nguyên liệu nội địa thay thế trong những thời điểm thế giới rơi vào bất ổn, khủng hoảng như hiện nay”, Phó chủ tịch VPA nhấn mạnh.
Phạm Sơn