Chế độ với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia chống Pháp phục viên từ 31/12/1960 về trước

Chế độ với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia chống Pháp phục viên từ 31/12/1960 về trước
3 giờ trướcBài gốc
Bộ Quốc phòng ban hành Văn bản hợp nhất số 42/VBHN-BQP Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp đã phục viên từ ngày 31/12/1960 trở về trước.
Đối tượng và điều kiện áp dụng chế độ
Quân nhân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương), công nhân viên quốc phòng thuộc các cơ quan, đơn vị quân đội có thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, nhập ngũ, tuyển dụng vào quân đội từ ngày 22/12/1944 đến trước ngày 20/7/1954, đã phục viên từ ngày 31/12/1960 về trước, không thuộc diện hưởng lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hằng tháng hoặc hưởng chế độ bệnh binh theo Nghị định số 500/NĐ-LB ngày 12/11/1958 của Liên Bộ Cứu tế Xã hội - Tài chính - Quốc phòng và Nghị định số 523/TTg ngày 06/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(1) Quân nhân, CNVQP do bị thương, hoặc sức khỏe yếu, hoặc hoàn cảnh gia đình khó khăn, hoặc do không có nhu cầu sử dụng được đơn vị cho về gia đình trước ngày 20/7/1954;
(2) Quân nhân, CNVQP thuộc diện giảm quân số sau ngày 20/7/1954 (kể cả số bị địch bắt, trao trả sau đó được giải quyết xuất ngũ);
(3) Quân nhân, CNVQP chuyển ngành sang làm kinh tế hoặc công tác khác thôi việc từ ngày 31/12/1960 về trước;
(4) Quân nhân, CNVQP ở miền Nam, được đơn vị cho về gia đình trước khi đơn vị tập kết ra miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), sau đó không tiếp tục hoạt động hoặc tiếp tục thoát ly hoạt động nhưng đã giải ngũ hoặc thôi việc tại miền Nam trước ngày 30/4/1975 mà không hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động, bệnh binh hằng tháng (thời gian được tính hưởng là thời gian thực tế phục vụ quân đội từ ngày 20/7/1954 về trước).
Các trường hợp được hưởng chế độ theo Thông tư
Các đối tượng quy định tại điểm a, b, c, d nêu trên đã hưởng hoặc đang hưởng phụ cấp, trợ cấp một lần hoặc hằng tháng như:
Trợ cấp thương tật của thương binh, trợ cấp đối với thân nhân liệt sĩ;
Phụ cấp ưu đãi đối với anh hùng;
Phụ cấp, trợ cấp đối với người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945;
Trợ cấp tù đày;
Trợ cấp người có công giúp đỡ cách mạng;
Trợ cấp tai nạn lao động hằng tháng;
Trợ cấp tham gia kháng chiến;
Chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn khi đang làm việc hoặc đã nghỉ việc vẫn được hưởng chế độ theo quy định tại Thông tư này.
Các trường hợp cần lưu ý khác trong hưởng chế độ, trợ cấp theo Thông tư
Các đối tượng nêu trên, nếu đã từ trần thì vợ hoặc chồng của người từ trần được hưởng trợ cấp. Nếu vợ hoặc chồng của người từ trần đã chết thì người thừa kế theo pháp luật được hưởng trợ cấp, theo thứ tự sau:
(1) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật của người từ trần (thuộc hàng thừa kế thứ nhất);
(2) Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người từ trần (thuộc hàng thừa kế thứ hai);
(3) Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người từ trần; cháu ruột của người từ trần mà người từ trần đó là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột (thuộc hàng thừa kế thứ ba).
(Mỗi hàng thừa kế do một người đại diện được những người trong hàng thừa kế ủy quyền đứng khai. Người đại diện ở hàng thừa kế sau chỉ đứng khai hưởng chế độ nếu không còn ai đại diện ở hàng thừa kế trước).
Đối tượng và điều kiện không áp dụng chế độ theo Thông tư
a. Đối tượng quy định tại Khoản 1, Mục I nêu trên, sau khi phục viên (giải ngũ, thôi việc) mà tái ngũ, tuyển dụng vào quân đội hoặc tiếp tục thoát ly công tác và đã xuất ngũ, thôi việc tại miền Bắc sau ngày 31/12/1960 và tại miền Nam từ ngày 30/4/1975 về sau;
b. Những người đào ngũ, bỏ ngũ đã ghi trong lý lịch cá nhân hoặc có văn bản thông báo đào ngũ của cấp trung đoàn trở lên hoặc có tên trong danh sách đào ngũ lưu trữ tại cơ quan quân sự huyện (quận);
c. Đối tượng sau khi xuất ngũ, thôi việc có tham gia ngụy quân hoặc chính quyền ngụy ở miền Nam tại địa phương từ thôn, bản, ấp, tổ dân phố... (sau đây gọi tắt là thôn) trở lên; hoặc không tham gia ngụy quân hoặc chính quyền ngụy tại địa phương nêu trên nhưng có hành động cộng tác với địch, gây thiệt hại cho cách mạng;
d. Đối tượng đang trong thời gian thi hành án tù giam;
đ. Người bị địch bắt mà đầu hàng, phản bội, xưng khai đã ghi trong lý lịch cá nhân hoặc có danh sách lưu trữ trong hồ sơ quản lý của cơ quan có thẩm quyền trong quân đội;
e. Đối tượng đã từ trần nhưng không còn người thừa kế theo pháp luật.
Các đối tượng không được quy định tại Thông tư này
Những người hưởng chế độ hưu trí, bệnh binh, mất sức lao động hằng tháng; dân quân du kích, tự vệ; thanh niên xung phong; dân công hỏa tuyến và dân công thời chiến không thuộc đối tượng quy định tại Thông tư này.
TOÀN VĂN: Văn bản hợp nhất số 42/VBHN-BQP Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp đã phục viên từ ngày 31/12/1960 trở về trước./.
Nguồn Chính Phủ : https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/che-do-voi-quan-nhan-cong-nhan-vien-quoc-phong-tham-gia-chong-phap-phuc-vien-tu-31-12-1960-ve-truoc-119260305092822016.htm