Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/1/2026

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/1/2026
2 giờ trướcBài gốc
Quy định về việc thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng
Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP ngày 13/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục của Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 07/6/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều phụ lục của Nghị định số 94/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê và Nghị định số 94/2022/NĐ-CP ngày 07/11/2022 của Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chính phủ thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng của cơ quan thống kê trung ương.
Thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng
Tại Nghị định số 13/2026/NĐ-CP, Chính phủ thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng của cơ quan thống kê trung ương so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 07/6/2024, cụ thể như sau:
Số liệu chính thức chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phổ biến vào ngày 03 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 03 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 03 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 03 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 03 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP quy định vào ngày 06 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Báo cáo kinh tế - xã hội tháng, quý I, quý II và 6 tháng, quý III và 9 tháng, quý IV và cả năm phổ biến vào ngày 03 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là vào ngày 06 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo).
Thay đổi thời gian công bố số liệu GDP, GRDP
Nghị định số 13/2026/NĐ-CP cũng đẩy lịch công bố số liệu GDP và GRDP lên sớm hơn so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP.
Theo đó, đẩy sớm thời gian công bố số liệu GDP từ ngày mùng 6 lên ngày mùng 3 và thời gian công bố số liệu GRDP từ ngày mùng 1 lên ngày 29 của tháng trước.
Cụ thể, số liệu GDP được công bố như sau:
Số liệu ước tính quý I; sơ bộ quý IV năm trước năm báo cáo: ngày 03/4 năm báo cáo;
Số liệu ước tính quý II, 6 tháng và ước tính cả năm lần 1; sơ bộ quý I: ngày 03/7 năm báo cáo;
Số liệu ước tính quý III và 9 tháng; sơ bộ quý II và 6 tháng: ngày 03/10 năm báo cáo;
Số liệu ước tính quý IV và ước tính cả năm lần 2; sơ bộ quý III và 9 tháng: ngày 03/01 năm kế tiếp sau năm báo cáo;
Số liệu sơ bộ cả năm: ngày 03/10 năm kế tiếp sau năm báo cáo;
Số liệu chính thức cả năm và theo quý của năm báo cáo: ngày 03/10 năm thứ hai kế tiếp sau năm báo cáo.
Số liệu GRDP được công bố như sau:
a) Số liệu ước tính quý I; sơ bộ quý IV năm trước năm báo cáo: ngày 29/3 năm báo cáo;
b) Số liệu ước tính quý II, 6 tháng và ước tính cả năm lần 1; sơ bộ quý I: ngày 29/6 năm báo cáo;
c) Số liệu ước tính quý III và 9 tháng; sơ bộ quý II và 6 tháng: ngày 29/9 năm báo cáo;
d) Số liệu ước tính quý IV và ước tính cả năm lần 2; sơ bộ quý III và 9 tháng: ngày 29/11 năm báo cáo;
đ) Số liệu sơ bộ cả năm: ngày 29/9 năm kế tiếp sau năm báo cáo;
e) Số liệu chính thức cả năm và theo quý của năm báo cáo: ngày 29/9 năm thứ hai kế tiếp sau năm báo cáo.
Những thay đổi trên nhằm bảo đảm cho việc thu thập, biên soạn thông tin thống kê phục vụ kịp thời cho các cơ quan Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền các cấp trong quản lý, điều hành.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2026.
Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của 26 Nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng
Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2026/NĐ-CP ngày 13/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 26 Nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng.
Đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc quản lý của Bộ Xây dựng
Cụ thể, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 26 Nghị định: 87/2009/NĐ-CP; 62/2016/NĐ-CP; 06/2021/NĐ-CP; 175/2024/NĐ-CP; 58/2017/NĐ-CP; 70/2016/NĐ-CP; 78/2016/NĐ-CP; 160/2016/NĐ-CP; 171/2016/NĐ-CP; 05/2017/NĐ-CP, 29/2017/NĐ-CP; 37/2017/NĐ-CP; 143/2017/NĐ-CP; 16/2018/NĐ-CP; 82/2019/NĐ-CP; 76/2021/NĐ-CP; 57/2024/NĐ-CP; 111/2016/NĐ-CP; 60/2023/NĐ-CP; 116/2017/NĐ-CP; 85/2020/NĐ-CP; 30/2013/NĐ-CP; 96/2021/NĐ-CP; 125/2015/NĐ-CP; 05/2021/NĐ-CP; 92/2016/NĐ-CP.
Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định theo hướng cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính; chuyển một số thành phần hồ sơ phải nộp từ bản giấy sang bản điện tử; bổ sung phương thức nộp hồ sơ; phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính; bãi bỏ hoặc sửa đổi điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, không hợp pháp được áp dụng theo hình thức giấy phép, giấy chứng nhận...
Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
Cụ thể, đối với Nghị định 62/2016/NĐ-CP về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 35/2023/NĐ-CP), Nghị định số 14/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh phạm vi và đối tượng áp dụng; sửa đổi về điều kiện đối với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và quy định về phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và trạm thí nghiệm hiện trường; đồng thời bổ sung thêm quy định về công bố công khai thông tin về năng lực hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.
Theo quy định mới, tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng quy định tại Nghị định này là tổ chức kinh doanh dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, quan trắc công trình xây dựng đáp ứng các điều kiện năng lực.
Điều kiện năng lực của tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng bao gồm:
- Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật;
- Đáp ứng các yêu cầu chung của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2017 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2017 và đáp ứng các yêu cầu cụ thể phù hợp với các chỉ tiêu thí nghiệm tự công bố;
- Người quản lý trực tiếp hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành phù hợp với một trong các lĩnh vực thí nghiệm của tổ chức;
- Có thí nghiệm viên phải tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp cho mỗi lĩnh vực thí nghiệm.
Sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng
Đối với Nghị định số 58/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về thủ tục công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi và công bố đưa luồng hàng hải vào sử dụng; sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước...
Nghị định quy định bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước trong vùng nước cảng biển được đóng khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước không còn tồn tại hoặc không đủ điều kiện hoạt động;
b) Bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước hoạt động không hiệu quả;
c) Vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc các lý do đặc biệt khác.
Chủ sở hữu thực hiện việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước thuộc sở hữu của mình.
Trước khi dừng khai thác bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ sở hữu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực để phục vụ công tác quản lý.
Sau khi đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ đầu tư có trách nhiệm: Thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực về việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước (trong đó nêu rõ thời điểm đóng) và thực hiện việc tháo dỡ, thu hồi hoặc xử lý công trình và thiết bị gắn với công trình theo quy định.
Bỏ một số điều kiện đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế
Nghị định số 160/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển quy định doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp).
- Được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định.
Ngoài điều kiện trên, doanhnghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải đáp ứng các điều kiện về: Tài chính (có bảo lãnh mức tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam); tàu thuyền; tổ chức bộ máy, nhân sự.
Nay, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định cắt bỏ điều kiện kinh doanh về tàu thuyền, về tổ chức bộ máy, về nhân lực.
Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau: Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp); được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định.
Đồng thời, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải có bảo lãnh theo quy định của pháp luật với mức tối thiểu là 05 tỷ đồng Việt Nam hoặc mua bảo hiểm để bảo đảm nghĩa vụ của chủ tàu đối với thuyền viên theo quy định.
Giảm thời gian và phân cấp thẩm quyền giải quyết TTHC
Đối với thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu pháo hiệu hàng hải tại Nghị định số 70/2016/NĐ-CP về điều kiện cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định trình tự cấp Giấy phép như sau:
Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ đề nghị theo quy định trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở giao dịch của tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh);
Trường hợp hồ sơ nộp trực tiếp, nếu hồ sơ đầy đủ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy biên nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo thời hạn quy định; trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định thì trả lại ngay và hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoàn thiện lại hồ sơ;
Trường hợp nhận trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính, nếu hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi tổ chức, cá nhân nêu rõ lý do và yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ;
Trong thời hạn 09 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép; trường hợp không cấp Giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không cấp Giấy phép nhập khẩu pháo hiệu hàng hải trong trường hợp pháo hiệu hàng hải đã hết thời hạn sử dụng hoặc có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng.
Như vậy, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP đã bổ sung hình thức nộp hồ sơ qua hệ thống Dịch vụ công trực tuyến, giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính từ 12 ngày xuống còn 09 ngày; phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính từ Bộ Xây dựng về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Ngoài ra, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 82/2019/NĐ-CP theo hướng phân cấp thẩm quyền giải quyết 3 thủ tục hành chính (quyết định đưa cơ sở phá dỡ tàu biển vào hoạt động; quyết định dừng ngay và dừng hoạt động của cơ sở phá dỡ tàu biển) từ Cục Hàng hải Việt Nam về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Cụ thể, đối với thủ tục quyết định đưa cơ sở phá dỡ tàu biển vào hoạt động, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra phù hợp của hồ sơ đề nghị đưa cơ sở phá dỡ tàu biển vào hoạt động. Trong thời hạn 03 ngày làm việc (quy định cũ 5 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đưa cơ sở phá dỡ tàu biển vào hoạt động.
Đối với quyết định dừng ngay và dừng hoạt động cơ sở phá dỡ tàu biển, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dừng ngay hoạt động của cơ sở trong trường hợp cơ sở phá dỡ tàu biển để xảy ra tai nạn, sự cố gây hậu quả nghiêm trọng đối với con người, môi trường trên cơ sở đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dừng hoạt động của cơ sở phá dỡ tàu biển trong các trường hợp sau trên cơ sở đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Cơ sở phá dỡ tàu biển không đáp ứng điều kiện hoạt động; vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh; khi có dịch bệnh, thiên tai, thảm họa và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 27/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Năm 2025, các lực lượng chức năng, đơn vị, địa phương đã phát hiện, bắt giữ, xử lý hơn 123.000 vụ việc vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Thông báo nêu: Công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả luôn được đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Năm 2025, các bộ, ngành, địa phương và các lực lượng chức năng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần ổn định, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng thu ngân sách Nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Năm 2025, các lực lượng chức năng, đơn vị, địa phương đã phát hiện, bắt giữ, xử lý hơn 123.000 vụ việc vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Thu nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 15.390 tỷ đồng (tăng 4,44% so với năm 2024). Các lực lượng chức năng đã khởi tố hình sự hơn 3.100 vụ (tăng 2,75% so với năm 2024), với hơn 5.400 đối tượng (tăng 17,58% so với năm 2024). Trong đó, biểu dương lực lượng Công an đã phát hiện, bắt giữ, xử lý nhiều vụ việc buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả với số lượng, quy mô rất lớn.
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả còn một số tồn tại, hạn chế, trong đó: Các quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa đồng bộ, hiện chưa có khái niệm "hàng giả" ở văn bản Luật, mức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường; các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, có tổ chức, liên kết chặt chẽ giữa các khâu; còn tình trạng một số cán bộ, công chức buông lỏng quản lý, bao che cho các vi phạm; số vụ việc vi phạm bị phát hiện, xử lý chưa phản ánh đúng tình hình thực tế, gây tâm lý lo lắng, bất an, ảnh hưởng đến sức khỏe của Nhân dân, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế của Việt Nam…
Kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, với phương châm "xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực"
Để nâng cao hiệu quả công tác năm 2026 và các năm tiếp theo, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng (Công an, Hải quan, Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường, các cơ quan kiểm tra chuyên ngành) tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm.
Cụ thể, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tiếp tục quán triệt sâu sắc, đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, trọng tâm là Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới, Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2025 và tổng kết đợt cao điểm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Thông báo số 341/TB-VPCP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Văn phòng Chính phủ), Nghị quyết số 397/NQ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ về Kế hoạch hành động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến năm 2030. Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu, lâu dài, thường xuyên liên tục, không ngừng nghỉ, cần huy động sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính quyền địa phương, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp và nhất là Nhân dân.
Đồng thời, chủ động nắm chắc tình hình, tăng cường công tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các tuyến biên giới, cửa khẩu, cảng biển, hàng không, địa bàn, mặt hàng, lĩnh vực có rủi ro cao, nhất là thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, các mặt hàng có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của Nhân dân như thuốc, sữa, thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm. Các lực lượng chức năng phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo tại địa phương, phải liên tục ra quân, thường xuyên, không ngừng nghỉ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, với phương châm "xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực".
6 tháng đầu năm 2026, tập trung hoàn thiện các tiêu chuẩn liên quan đến thực phẩm, dược phẩm, sức khỏe
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch chuyên đề, cao điểm, giải pháp kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, hiệu quả các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nhất là trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật, các quy trình nghiệp vụ; kết hợp giữa kiểm tra với tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật cho đối tượng kiểm tra. Việc kiểm tra đảm bảo nguyên tắc mỗi địa bàn, lĩnh vực do một cơ quan chịu trách nhiệm chính, chủ trì, đồng thời chủ động trao đổi, chia sẻ thông tin, phối hợp lực lượng, đơn vị, địa phương để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; tập trung đánh trúng, đánh đúng đối tượng chủ mưu, cầm đầu. Khuyến khích các bộ, ngành, địa phương ký Quy chế phối hợp trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, khoảng trống về pháp lý, không để các đối tượng lợi dụng để buôn lậu, gian lận thương mại và sản xuất, kinh doanh hàng giả; sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng cao mức xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính răn đe, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất cho công tác quản lý và thực thi pháp luật. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các Bộ, ngành tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn do Bộ, ngành mình quản lý, nhất là liên quan đến thực phẩm, dược phẩm, sức khỏe; quản lý truy xuất nguồn gốc hàng hóa, nâng cao chất lượng các trung tâm kiểm nghiệm.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tư pháp, Công an, Tài chính, Y tế, Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, nghiên cứu, đề xuất việc bổ sung khái niệm "hàng giả" vào văn bản Luật; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2026.
Xử lý nghiêm cán bộ, công chức, sỹ quan có hành vi tiếp tay, bao che vi phạm
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường, kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành theo từng lĩnh vực quản lý, tránh chồng chéo nhưng phải rõ trách nhiệm; xử lý nghiêm các cán bộ, công chức, sỹ quan có hành vi thiếu trách nhiệm, tham nhũng, tiêu cực trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tiếp tay, bao che vi phạm; đồng thời biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, những tấm gương tích cực, cách làm hay, tạo động lực cho lực lượng thực thi nhiệm vụ.
Tích cực truyền thông, phổ biến pháp luật, tuyên truyền những nguy hại, ảnh hưởng xấu của buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức và Nhân dân; tuyên truyền, phổ biến các thủ đoạn, phương thức gian lận, lừa đảo để Nhân dân biết, nâng cao cảnh giác và kịp thời thông tin cho cơ quan có thẩm quyền; bên cạnh đó phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và cơ quan báo chí.
Cùng với đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, giám sát; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, lực lượng chức năng; nâng cao hiệu quả công tác thu thập, phân tích, xử lý thông tin; nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người dân trong việc phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; phát huy vai trò của các đường dây nóng, kênh tiếp nhận thông tin từ người dân, doanh nghiệp.
Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia thành chương trình, kế hoạch hành động; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, định kỳ báo cáo kết quả về Ban Chỉ đạo quốc gia (qua Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia) để theo dõi, chỉ đạo kịp thời. Tiếp tục rà soát, kiện toàn nhân sự, xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Bộ, ngành, địa phương mình nhằm nâng cao hiệu quả tham mưu, điều hành công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới, phù hợp với Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Phó Thủ tướng giao Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo rà soát Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo, Quy chế hoạt động của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo, sớm đề xuất sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo trong tháng 02 năm 2026.
Tổng hợp đầy đủ các kiến nghị, đề xuất của các Bộ, ngành, địa phương, báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo để chỉ đạo các bộ, ngành chức năng xử lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; khẩn trương tổng hợp, báo cáo đề xuất Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2025, hoàn thành trong Quý I năm 2026.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại Hội nghị tổng kết công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 26/TB-VPCP ngày 14/1/2025 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại Hội nghị tổng kết công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
Đổi mới toàn diện công tác sát hạch và cấp Giấy phép lái xe.
Thông báo nêu: Năm 2025, thời tiết cực đoan, bão lũ liên tiếp xảy ra tại nhiều vùng miền, địa phương, gây ảnh hưởng đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT); cùng với đó là những thay đổi lớn trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy tại các bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, định hướng sát sao của Đảng (đặc biệt là Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 25 tháng 2 năm 2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng), sự quan tâm giám sát của Quốc hội và sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự chủ động của Bộ Công an và Bộ Xây dựng, các hoạt động bảo đảm TTATGT được duy trì thực hiện xuyên suốt, hiệu quả. Tai nạn giao thông (TNGT) giảm sâu cả ba tiêu chí (số vụ giảm hơn 22%, số người chết giảm hơn 6%, đặc biệt số người bị thương giảm mạnh gần 30% so với năm 2024); hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường kỷ cương, thực thi pháp luật và hình thành văn hóa giao thông; tạo đột phá trong phát triển và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông với việc đưa vào khai thác 36 dự án trọng điểm, đặc biệt là các tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông và khởi công xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng…
Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra nhiều vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng, trong đó thường xuyên đối với loại hình xe kinh doanh vận tải; vi phạm liên quan đến mô tô, xe gắn máy và đối tượng là học sinh, TNGT trên quốc lộ, tỉnh lộ và khu vực nông thôn còn cao; ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn, đặc biệt Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn diễn biến phức tạp; người điều khiển phương tiện thiếu kỹ năng xử lý tình huống thực tế và thiếu kiến thức về quy tắc giao thông đường bộ; vi phạm hành lang an toàn giao thông (ATGT) còn nhiều; năng lực thực thi pháp luật ở cơ sở còn hạn chế; ứng dụng khoa học công nghệ chưa đồng bộ...
Từ năm 2026 phấn đấu giảm ít nhất 50% số vụ, số người chết và bị thương/100.000 dân
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, năm 2026 là năm đầu triển khai kế hoạch giai đoạn 2026-2031 và "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", dự báo kinh tế tăng cao, nhu cầu vận tải và mật độ phương tiện gia tăng mạnh; việc diễn ra các sự kiện chính trị - xã hội trọng đại ngay từ đầu năm như Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIV, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp… tạo áp lực rất lớn cho công tác bảo đảm TTATGT. Phát huy những kết quả đã đạt được và triển khai các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, công tác bảo đảm TTATGT năm 2026 với mục tiêu tiếp tục kéo giảm TNGT trên cả 3 tiêu chí; đặc biệt giảm thiểu các vụ TNGT gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, khắc phục hiệu quả tình trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn và trên các trục chính, cửa ngõ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện mục tiêu "Giao thông xanh", giảm ô nhiễm môi trường từ hoạt động giao thông vận tải và thiết lập lộ trình phấn đấu giảm ít nhất 50% số vụ, số người chết và bị thương/100.000 dân từ năm 2026, riêng các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… phấn đấu đạt mức giảm 60-70%, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu "Thập kỷ hành động vì ATGT 2021-2030" do Liên hợp quốc phát động.
Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả chỉ đạo, đôn đốc thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư và Nghị quyết số 149/NQ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Chính phủ, chú trọng vai trò của người đứng đầu các cấp trong lãnh đạo định hướng các hoạt động bảo đảm TTATGT. Tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật, ứng dụng thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và lồng ghép mục tiêu ATGT vào các quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh và quy hoạch sử dụng đất, xây dựng đô thị, nông thôn và các quy hoạch chuyên ngành về giao thông trong tất các các khâu thiết kế, xây dựng và khai thác vận hành.
Khai thác hiệu quả dữ liệu từ camera để quản lý và xử lý vi phạm
Bộ Công an duy trì xuyên suốt các chuyên đề tuần tra kiểm soát các hành vi là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới TNGT theo các chuyên đề mà lực lượng chức năng đã triển khai hiệu quả trong thời gian vừa qua...; khai thác hiệu quả hệ thống xử lý dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình và camera để quản lý và xử lý vi phạm, đặc biệt các vi phạm trong hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ; nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền quy định phân định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ.
Xây dựng cơ sở dữ liệu TTATGT quốc gia bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ thông tin dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác bảo đảm TTATGT. Nghiên cứu giải pháp công nghệ trong điều hành giao thông, ưu tiên không gian cho giao thông tiếp cận (đi bộ, xe đạp) tại các đô thị lớn. Kiên quyết tạm dừng lưu thông đối với các đoạn đường không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn; xây dựng ứng dụng báo thông tin TNGT trên nền tảng kỹ thuật số.
Đẩy mạnh kiểm soát, xử lý vi phạm quy định về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công an đổi mới toàn diện công tác sát hạch và cấp Giấy phép lái xe (GPLX), bảo đảm người điều khiển phương tiện có đủ kiến thức pháp luật và kỹ năng thực hành lái xe an toàn.
Tiếp tục đẩy mạnh kiểm soát, xử lý vi phạm quy định về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện, bảo đảm thực hiện mục tiêu 100% người điều khiển phương tiện không vi phạm quy định về nồng độ cồn, nghiên cứu đề xuất bổ sung các quy định pháp luật mới để quản lý hiệu quả hơn nữa đối với hành vi này.
Bộ Công an phối hợp với ngành Giáo dục triển khai công tác giáo dục ATGT, bảo đảm học sinh có đủ cả kiến thức pháp luật và kỹ năng điều khiển xe an toàn; học sinh không vi phạm pháp luật giao thông; phụ huynh không giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển theo quy định của pháp luật; tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến trong đăng ký phương tiện, cấp đổi GPLX và trừ điểm GPLX.
Bộ Công an hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký các chỉ tiêu về giảm TNGT; trong đó lấy kết quả thực hiện các chỉ tiêu này là một trong những căn cứ then chốt để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo địa phương.
Bộ Xây dựng chủ động hướng dẫn, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức thực hiện việc xóa bỏ lối đi tự mở, xử lý vi phạm hành lang ATGT đường sắt, xây dựng đường gom…; tổ chức tổng kết thực hiện Quyết định số 358/QĐ-TTg ngày 10 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo đảm trật tự hành lang ATGT và xử lý dứt điểm lối đi tự mở qua đường sắt để đánh giá kết quả đã làm được, các tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và đề xuất lộ trình thực hiện tiếp theo; phối hợp với Bộ Tài chính tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ bố trí đủ kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.
Đồng thời, Bộ Xây dựng chủ trì rà soát, ban hành hướng dẫn tổ chức giao thông theo hướng tách làn giữa ô tô và mô tô (đối với các tuyến có 04 làn đường trở lên trên mỗi chiều đường, hoặc các tuyến có điều kiện phù hợp khác); giảm thiểu xung đột tại các vị trí nút giao, đường phụ ra đường chính… nhằm giảm thiểu các nguy cơ dẫn tới TNGT; tổ chức giao thông khoa học, hợp lý.
Rà soát, nghiên cứu sửa đổi nâng tỷ lệ diện tích đất tối thiểu dành cho đường giao thông (không bao gồm giao thông tĩnh) so với đất xây dựng đô thị tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 07-4:2016/BXD); tích hợp các mục tiêu về bảo đảm ATGT, phát triển giao thông công cộng và giao thông xanh tại các quy hoạch đô thị.
Bảo đảm tiến độ và chất lượng các dự án giao thông trọng điểm trong và ngoài đô thị; đề xuất mở rộng các tuyến cao tốc chưa đạt chuẩn; hoàn thiện các công trình phụ trợ, trạm dừng nghỉ trên tuyến bảo đảm đạt tiêu chuẩn quy định; đề xuất đầu tư mạng lưới bãi đỗ xe tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; tăng cường công tác quản lý an toàn kỹ thuật phương tiện.
Đẩy mạnh phát triển vận tải đường sắt, thủy, hàng không để giảm áp lực cho đường bộ
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng tái cơ cấu vận tải, đẩy mạnh phát triển vận tải đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không để giảm áp lực cho đường bộ. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quy định tách bạch, rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ.
Khẩn trương rà soát, sửa đổi, ban hành Quy chuẩn, tiêu chuẩn đối với phương tiện tàu khách vận tải trên vùng ven biển (vịnh), đường thủy; nghiên cứu kinh nghiệm trong công tác quản lý hoạt động ATGT của các nước tiên tiến, đề xuất phương thức tổ chức mới trong công tác điều phối hoạt động bảo đảm TTATGT, trong đó xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể đối với từng bộ, ngành, địa phương, đơn vị… bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hơn trong tình hình mới, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước 15 tháng 3 năm 2026.
Bộ Y tế cải thiện năng lực sơ cứu cho y tế cơ sở (thôn, bản, xã); nâng cao năng lực chuyên môn và trang thiết bị cho bệnh viện tuyến xã, phường; phối hợp xây dựng ứng dụng báo thông tin TNGT trên nền tảng kỹ thuật số.
Đổi mới giáo dục an toàn giao thông
Bộ Giáo dục và Đào tạo tích hợp nội dung giáo dục pháp luật TTATGT vào chương trình chính khóa theo một chương trình thống nhất; đổi mới giáo dục ATGT bảo đảm có đủ kiến thức pháp luật và kỹ năng lái xe an toàn cho học sinh THPT và giáo dục nghề nghiệp; cấp chứng nhận tập huấn kỹ năng điều khiển xe máy điện, xe đạp điện cho học sinh; bảo đảm 100% học sinh các cấp nắm vững quy định pháp luật giao thông theo chương trình của cấp học.
Khẩn trương ban hành văn bản xác định trách nhiệm trực tiếp đối với Hiệu trưởng và Ban giám hiệu nhà trường nếu để xảy ra tình trạng học sinh vi phạm pháp luật giao thông tại đơn vị quản lý; làm rõ trách nhiệm gia đình và nhà trường trong việc quản lý học sinh sử dụng xe gắn máy.
Các cơ quan truyền thông kịp thời đưa tin về tình hình TTATGT, cảnh báo nguy cơ và hướng dẫn biện pháp phòng tránh tai nạn; đa dạng hóa hình thức truyền thông trên mạng xã hội và hạ tầng số.
Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác định bảo đảm TTATGT là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt, xây dựng kế hoạch bảo đảm TTATGT cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp, phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ tại địa phương; đến hết năm 2026 phải hoàn thành xử lý điểm tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT và các lối đi tự mở giữa đường sắt và đường bộ trên địa bàn theo thẩm quyền quản lý; phân công rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của các sở, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương; lượng hóa các chỉ tiêu, tiêu chí để kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện công tác bảo đảm TTATGT, đồng thời kiểm điểm, xử lý nghiêm người đứng đầu nếu để tình hình TTATGT diễn biến phức tạp trên địa bàn, lĩnh vực quản lý.
Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới đô thị xanh, sạch, hiện đại, an toàn
Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sớm hoàn thiện Đề án Thành phố an toàn, trong đó có các giải pháp đột phá, có hệ thống chỉ tiêu định lượng cụ thể, xác định rõ nguồn lực thực hiện và lộ trình triển khai; phân định rõ thẩm quyền phê duyệt và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc định kỳ kiểm tra, đôn đốc và báo cáo kết quả thực hiện. Nội dung Đề án cần đặc biệt chú trọng cụ thể hóa các định hướng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư tại Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội 2025 nhằm giải quyết triệt để các bất cập về hạ tầng và tổ chức giao thông, hướng tới phát triển Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thành đô thị xanh, sạch, hiện đại, an toàn.
Đồng thời, hai thành phố chỉ đạo giải quyết ô nhiễm môi trường trên địa bàn (trong đó có ô nhiễm do phương tiện giao thông gây ra); tập trung kiểm soát và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với phương tiện vận chuyển vật liệu, phế thải trong hoạt động xây dựng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến hoạt động giao thông đô thị.
Bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.
Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.
Ngày 7/1/2026, tại phiên họp thứ tư của Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo đã yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương phối hợp với UBND tỉnh Khánh Hòa và các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc bãi bỏ Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư cho các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác giải phóng mặt bằng.
Trước đó, ngày 26/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.8/2025/NQ-CP về tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư thành dự án độc lập. Trong đó, quy định cơ chế đặc thù bồi thường hỗ trợ tái định cư để thực hiện dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Cụ thể:
1. Cho phép tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành dự án độc lập (sau đây gọi là Dự án).
2. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa làm cơ quan chủ quản Dự án. Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định đầu tư Dự án khi cấp có thẩm quyền chưa quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư và phê duyệt điều chỉnh dự án điện hạt nhân Ninh Thuận theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời gian chờ bố trí tái định cư, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa được phép bố trí nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở cho người có đất ở bị thu hồi để phục vụ Dự án. Thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa quy định, bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
4. Giao các chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 thực hiện cập nhật nội dung Dự án vào các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 nhằm đảm bảo tính đồng bộ.
5. Áp dụng hình thức chỉ định thầu theo quy trình rút gọn đối với các gói thầu tư vấn, phi tư vấn để thực hiện Dự án theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
6. Việc thu hồi đất để thực hiện Dự án được quy định như sau:
a) Căn cứ quy hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai, được ban hành thông báo tổ chức thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất.
Thông báo tổ chức thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất được gửi đến từng người sử dụng đất và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư.
b) Trên cơ sở thông báo tại điểm a nêu trên, đơn vị được giao làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai được phép triển khai thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với đơn vị được giao làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư triển khai thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất.
Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với đơn vị được giao làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
c) Sau khi Dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại khoản 2 nêu trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai ban hành thông báo thu hồi đất và sử dụng kết quả thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo quy định tại điểm b nêu trên để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định thu hồi đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai./.
Nguồn Chính Phủ : https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-ngay-14-1-2026-102260114190605165.htm