Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/1/2026 (1)

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/1/2026 (1)
3 giờ trướcBài gốc
Nghị quyết triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài
Khẩn trương triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26/01/2026 triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài.
Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương tổ chức triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; không để lãng phí tài sản của nhà nước, người dân, doanh nghiệp kéo dài.
Sửa đổi, bổ sung các quy định để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho các dự án
Chính phủ giao Bộ Tài chính phát huy tích cực vai trò cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng theo Quyết định số 751/QĐ-TTg ngày 11/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ (Ban chỉ đạo 751) để điều phối, hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương, địa phương nghiên cứu, tổng hợp, rà soát và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án gặp khó khăn, vướng mắc tồn đọng kéo dài trên Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban chỉ đạo 751 (Hệ thống 751), báo cáo Ban chỉ đạo phương hướng xử lý cụ thể.
Bộ Tài chính căn cứ vào lĩnh vực, đặc điểm của từng nhóm khó khăn, vướng mắc của các dự án, chủ động đề xuất Ban chỉ đạo 751 có ý kiến chỉ đạo, giao các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương liên quan chủ trì xử lý dứt điểm theo thẩm quyền hoặc đề xuất giải pháp, cơ chế chính sách vượt thẩm quyền để trình cấp có thẩm quyền cho phép sửa đổi, bổ sung các quy định hoặc ban hành chính sách đặc thù để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho các dự án theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương, địa phương liên quan nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách trình Chính phủ ban hành Nghị quyết tháo gỡ vướng mắc, khó khăn đối với các dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao được thực hiện trước thời điểm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành (dự án BT chuyển tiếp) trong tháng 01 năm 2026; thông báo danh mục các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được tổng hợp trên Hệ thống 751 trong tháng 1 năm 2026 để các bộ, cơ quan trung ương, địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền.
Chủ động hướng dẫn và mở Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan trung ương, địa phương tiếp tục cập nhật thông tin, danh mục các dự án gặp khó khăn, vướng mắc tồn đọng lâu dài mà đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2025 chưa được báo cáo hoặc xử lý, giải quyết.
Tích cực xử lý các dự án tồn đọng kéo dài lĩnh vực quy hoạch, đô thị, nhà ở
Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện các chính sách đặc thù, điều kiện áp dụng, nguyên tắc thực hiện nêu tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 đối với các dự án, đất đai được áp dụng cơ chế chính sách theo mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội.
Chủ trì trình Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 265/2025/QH15 Kỳ họp thứ 10 Quốc hội, khóa XV về việc mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án có tình huống pháp lý tương tự trên phạm vi toàn quốc, bao gồm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Nghị định số 76/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ và các quy định khác liên quan (trường hợp cần thiết) để đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tích cực, chủ động xử lý các dự án tồn đọng kéo dài theo thẩm quyền hoặc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trình Chính phủ, Quốc hội ban hành Nghị quyết (nếu có) để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự án trên Hệ thống 751 liên quan đến lĩnh vực đất đai, khoáng sản, nông nghiệp, thủy lợi và các lĩnh vực khác thuộc chức năng, nhiệm vụ, phạm vi của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo chỉ đạo, phân công của Ban chỉ đạo.
Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan tích cực, chủ động xử lý các dự án tồn đọng kéo dài theo thẩm quyền hoặc xây dựng cơ chế, chính sách trình Chính phủ, Quốc hội ban hành Nghị quyết (nếu có) để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự án liên quan đến lĩnh vực quy hoạch, đô thị, nhà ở, xây dựng và các lĩnh vực khác thuộc chức năng, nhiệm vụ, phạm vi theo dõi của Bộ Xây dựng theo chỉ đạo, phân công của Ban chỉ đạo.
Bộ Công Thương chủ trì, chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tổ chức thực hiện giải pháp tháo gỡ vướng mắc cho các dự án điện năng lượng tái tạo theo cơ chế giá FIT sau khi được cấp có thẩm quyền thông qua; phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh có dự án hưởng giá FIT kiểm tra, rà soát và xử lý vi phạm hành chính (nếu có) của các dự án trên theo thẩm quyền, quy định của pháp luật. Trường hợp có vướng mắc, gửi văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính của các dự án theo quy định của pháp luật.
Rà soát danh mục các dự án, đất đai đề nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm rà soát danh mục các dự án, đất đai đề nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách được Quốc hội quyết nghị tại mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 trên địa bàn của mình đảm bảo bám sát nguyên tắc tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội và Kết luận số 182-KL/TW của Bộ Chính trị; hoàn thiện các thông tin còn thiếu gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ ban hành danh mục dự án, đất đai theo quy định tại Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội.
Tổ chức thực hiện Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội đối với nội dung tháo gỡ khó khăn vướng mắc của các dự án được Chính phủ phê duyệt cho phép tháo gỡ đảm bảo các điều kiện, nguyên tắc áp dụng nêu tại các Nghị quyết của Quốc hội, chịu trách nhiệm theo thẩm quyền.
Chịu trách nhiệm toàn diện, chủ động trong triển khai thực hiện và tháo gỡ ngay cho các dự án thuộc thẩm quyền xử lý của địa phương; định kỳ hàng tháng báo cáo kết quả xử lý trên Hệ thống 751 và báo cáo bằng văn bản về Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; kịp thời báo cáo các vấn đề vượt thẩm quyền trong quá trình thực hiện.
Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Quy định về quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin.
Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công.
Quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Nghị định quy định Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công bao gồm:
a) Dự án đầu tư hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định này (sau đây gọi là dự án đầu tư hệ thống);
b) Dự án mua dự phòng, thay thế các thiết bị phần cứng, phần mềm thương mại thuộc hệ thống thông tin hiện có; mua phần mềm thương mại; mua thiết bị phần cứng riêng lẻ; mua thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu không thuộc hoạt động quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định này (sau đây gọi là dự án mua sắm);
c) Dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin.
Nghị định nêu rõ: Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công và các quy định của Nghị định này.
Trình tự, thủ tục quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin khẩn cấp thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết; trình tự, thủ tục quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt thực hiện theo quy định tại khoản 21 Điều 7 của Luật số 90/2025/QH15 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết.
Phân loại dự án, chủ đầu tư dự án, các trường hợp điều chỉnh dự ánđược xác định theo các quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Cũng theo Nghị định 45/2026/NĐ-CP, dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin có hạng mục đầu tư thuộc công trình viễn thông, xây dựng công trình và các lĩnh vực khác thì việc quản lý chi phí, quản lý chất lượng hạng mục đầu tư đó thực hiện theo quy định của pháp luật về viễn thông, pháp luật về xây dựng và pháp luật chuyên ngành khác (nếu có).
Dự án trong lĩnh vực khác có hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin thì việc quản lý chi phí, quản lý chất lượng hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin đó thực hiện theo quy định của Nghị định này.
Trường hợp một dự án gồm nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự án, trong đó nếu từng dự án thành phần hoặc tiểu dự án có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong chủ trương đầu tư thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án đó được thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư (trừ bước lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư) như một dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin độc lập.
Dự án thành phần hoặc tiểu dự án thuộc nhóm nào thì trình tự, thủ tục lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án được thực hiện theo trình tự, thủ tục của dự án nhóm đó.
Việc bố trí vốn thực hiện dự án tuân thủ theo các quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết. Việc lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết, thực hiện hợp đồng được thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết.
Gói thầu lập thiết kế chi tiết và thực hiện công tác triển khai đối với phần mềm nội bộ quy định tại Điều 20 của Nghị định này thực hiện theo gói thầu thiết kế và cung cấp hàng hóa (EP) của pháp luật về đấu thầu.
Mẫu hồ sơ mời thầu đối với gói thầu xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ áp dụng theo mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa của pháp luật về đấu thầu.
Việc thanh toán, quyết toán dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện theo quy định. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của các đơn giá, khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán trong hồ sơ thanh toán.
Việc xử lý tài sản là kết quả của dự án và tài sản phục vụ hoạt động của dự án được thực hiện theo quy định của pháp luật quản lý sử dụng tài sản công và pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Trình tự đầu tư dự án
Nghị định quy định trình tự đầu tư dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm các giai đoạn: a) Chuẩn bị đầu tư; b) Thực hiện đầu tư; c) Kết thúc đầu tư.
Các hoạt động trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư có thể thực hiện tuần tự hoặc xen kẽ tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án và do cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư xác định.
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các hoạt động chính bao gồm:
a) Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư;
b) Lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, các hoạt động chính bao gồm:
a) Đối với dự án đầu tư hệ thống: Lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ thiết kế chi tiết, thiết kế chi tiết trong trường hợp thiết kế 02 bước; tổ chức lựa chọn nhà thầu và thực hiện các hợp đồng; quản lý dự án; công tác triển khai; giám sát công tác triển khai; kiểm thử; vận hành thử; đào tạo hướng dẫn sử dụng; nghiệm thu, bàn giao; lập hồ sơ hoàn thành;
b) Đối với dự án mua sắm: Tổ chức lựa chọn nhà thầu và thực hiện các hợp đồng; quản lý dự án; công tác triển khai; giám sát công tác triển khai (nếu có); vận hành thử; đào tạo hướng dẫn sử dụng (nếu có); nghiệm thu, bàn giao; lập hồ sơ hoàn thành;
c) Đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin: Tổ chức lựa chọn nhà thầu và thực hiện các hợp đồng; quản lý dự án; vận hành thử; đào tạo hướng dẫn sử dụng; nghiệm thu, cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin; giám sát chất lượng dịch vụ công nghệ thông tin; nghiệm thu, bàn giao; lập hồ sơ hoàn thành.
Trong giai đoạn kết thúc đầu tư, các hoạt động chính bao gồm:
a) Bảo hành sản phẩm của dự án (đối với dự án đầu tư hệ thống và dự án mua sắm);
b) Quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán.
Thiết kế dự án
Nghị định quy định thiết kế dự án được áp dụng đối với các dự án đầu tư hệ thống. Việc thiết kế được thực hiện 01 bước hoặc 02 bước. Thiết kế 01 bước gồm thiết kế chi tiết. Thiết kế 02 bước gồm thiết kế cơ sở và thiết kế chi tiết.
Thiết kế 01 bước được áp dụng đối với các dự án sau đây:
a) Dự án có tổng mức đầu tư không quá 20 tỷ đồng;
b) Dự án không thuộc điểm a) nếu chủ đầu tư xét thấy có thể thiết kế 01 bước thì báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép thực hiện thiết kế 01 bước.
Thiết kế 02 bước được áp dụng đối với các dự án không thuộc các dự án áp dụng thiết kế 01 bước nêu trên.
Trường hợp thiết kế 02 bước, Nghị định quy định thiết kế chi tiết phải phù hợp với thiết kế cơ sở đã được phê duyệt về mô hình tổng thể, mô hình lô-gic, mô hình vật lý của hệ thống hoặc các thành phần của hệ thống (nếu có);
Đối với các dự án đầu tư xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ hoặc dự án có hạng mục đầu tư xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ (sau đây gọi là dự án đầu tư hệ thống có hạng mục phần mềm nội bộ), sau khi cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án, chủ đầu tư tự thực hiện hoặc thuê một nhà thầu tổ chức khảo sát bổ sung (nếu thấy cần thiết), lập thiết kế chi tiết và thực hiện công tác triển khai.
Tổ chức, cá nhân thiết kế chi tiết phải thực hiện công tác giám sát tác giả trong suốt quá trình triển khai, nghiệm thu sản phẩm hoặc hạng mục công việc của dự án khi chủ đầu tư yêu cầu.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực biển và hải đảo
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực biển và hải đảo.
Quy định mới về các trường hợp từ chối giao khu vực biển.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP gồm 4 Chương 47 Điều, trong đó sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 Nghị định: Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định số 41/2016/NĐ-CP quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Đáng chú ý, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về nguyên tắc giao khu vực biển; các trường hợp từ chối giao khu vực biển; thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển; trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị giao khu vực biển.
Trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển
Trong đó, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 4 nhằm bổ sung thêm nguyên tắc khai thác tại một khu vực biển và nguyên tắc giải quyết sự trùng nhau về vị trí biển đề nghị giao.
Theo đó, trong một vùng biển có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích sử dụng nhưng không được mâu thuẫn với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đang được phép tiến hành. Trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Trường hợp có sự chồng lấn, trùng nhau về vị trí, phạm vi khu vực biển đề nghị giao thì giải quyết hồ sơ của tổ chức, cá nhân nộp trước đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, được thể hiện trên Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
Quy định rõ ràng, chặt chẽ các trường hợp từ chối giao khu vực biển
Đồng thời, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5a nhằm đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ trong các quy định của pháp luật đối với các trường hợp từ chối giao khu vực biển.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP quy định từ chối giao khu vực biển trong trường hợp phạm vi khu vực biển đề nghị sử dụng nằm trong các khu vực biển dưới đây, trừ trường hợp các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý hoặc pháp luật quy định cho phép tổ chức, cá nhân được thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển tại các khu vực này:
- Khu vực sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh;
- Khu vực bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới;
- Khu vực thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; khu vực có rừng đặc dụng đã được công bố theo quy định của pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học, lâm nghiệp;
- Khu vực thuộc khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản;
- Khu vực có hệ sinh thái cỏ biển, rạn san hô thuộc khu vực cần bảo vệ đặc biệt được xác định trong Quy hoạch không gian biển quốc gia;
- Khu vực có công trình dầu khí, thiết bị và công trình trên biển, vùng an toàn xung quanh các công trình này và các khu vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, công nhận khu vực biển.
Thay đổi thẩm quyền gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển
Nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, phù hợp, đồng bộ với các quy định tại Luật Thủy sản và tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương, Nghị định 44/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 8 về thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển.
Theo quy định mới, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp sau đây:
- Khu vực biển có phạm vi nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển cấp tỉnh;
- Khu vực biển liên vùng;
- Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp sau đây:
- Khu vực biển nằm trong ranh giới quản lý hành chính trên biển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển đối với cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 có phạm vi nằm trong vùng biển 03 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc các đảo. Hạn mức giao khu vực biển quy định tại khoản này không quá 05 ha.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP quy định rõ, trường hợp chưa xác định được ranh giới quản lý hành chính trên biển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển thực hiện như sau:
- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển có phạm vi toàn bộ hoặc một phần nằm ngoài vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi toàn bộ hoặc một phần nằm ngoài vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đảo lớn nhất của các đặc khu;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đảo lớn nhất của các đặc khu; khu vực biển để nuôi trồng thủy sản có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc có phạm vi nằm hoàn toàn trong vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của các đảo.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có biển có trách nhiệm gửi quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có biển có trách nhiệm gửi quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển về Sở Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
Cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục giao khu vực biển
Ngoài ra, Nghị định 44/2026/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung Điều 16 trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị giao khu vực biển theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính, phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
Nghị định 44/2026/NĐ-CP quy định trong thời hạn không quá 40 ngày đối với hồ sơ thuộc thẩm quyền giao khu vực biển của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không quá 30 ngày đối với hồ sơ thuộc thẩm quyền giao khu vực biển của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo đúng quy định, cơ quan thẩm định hồ sơ có trách nhiệm:
- Hoàn thành việc thẩm định hồ sơ theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định này. Kết quả thẩm định phải được lập bằng văn bản;
- Xác định mức thu tiền sử dụng khu vực biển cụ thể và các nghĩa vụ khác mà tổ chức, cá nhân phải thực hiện (nếu có).
Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm gửi văn bản lấy ý kiến về hồ sơ đề nghị giao khu vực biển như sau:
a- Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khu vực biển. Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến kèm theo đầy đủ hồ sơ đã quy định, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm phải trả lời bằng văn bản. Trường hợp quá thời hạn nêu trên mà không nhận được văn bản trả lời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc giao khu vực biển; cơ quan được lấy ý kiến chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan thuộc phạm vi quản lý. Thời gian lấy ý kiến không tính vào thời gian thẩm định hồ sơ;
b- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến kèm theo đầy đủ hồ sơ đã quy định, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm phải trả lời bằng văn bản. Trường hợp quá thời hạn nêu trên mà không nhận được văn bản trả lời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc giao khu vực biển; cơ quan được lấy ý kiến chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan thuộc phạm vi quản lý. Thời gian lấy ý kiến không tính vào thời gian thẩm định hồ sơ;
c- Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị giao khu vực biển lấy ý kiến cơ quan có liên quan trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định;
d- Trường hợp giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản có ý kiến về phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản trên biển theo đề nghị của cơ quan thẩm định hồ sơ hoặc cơ quan có thẩm quyền giao khu vực biển;
đ- Trường hợp trong quá trình xem xét, cấp văn bản cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển cho tổ chức, cá nhân; cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã lấy ý kiến các cơ quan quy định tại điểm a và điểm b khoản này về tọa độ, diện tích, mục đích, thời hạn sử dụng khu vực biển nơi đề nghị giao khu vực biển và văn bản ý kiến của các cơ quan này được gửi kèm theo hồ sơ đề nghị giao khu vực biển thì cơ quan có thẩm quyền giao khu vực biển quy định tại khoản này không phải thực hiện thủ tục lấy ý kiến theo quy định tại điểm c và điểm d khoản này.
Trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định hồ sơ tổ chức kiểm tra thực địa, thời gian kiểm tra thực địa không quá 03 ngày làm việc, thời gian kiểm tra thực địa không tính vào thời gian thẩm định hồ sơ.
Trường hợp hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện để được giao khu vực biển hoặc thuộc các trường hợp từ chối giao khu vực biển quy định ở trên, cơ quan thẩm định hồ sơ trả lại hồ sơ cho Bộ phận Một cửa kèm theo thông báo bằng văn bản trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên Bộ phận Một cửa thực hiện đóng hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.
Trường hợp hồ sơ còn chưa đủ thông tin để quyết định giao khu vực biển, cơ quan thẩm định hồ sơ gửi văn bản nêu rõ lý do, nội dung, thông tin cần bổ sung, giải trình đến tổ chức, cá nhân. Tổ chức, cá nhân gửi văn bản cung cấp bổ sung thông tin, giải trình đến cơ quan thẩm định hồ sơ trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày cơ quan thẩm định hồ sơ gửi văn bản (thời gian này không tính vào thời hạn giải quyết hồ sơ); sau 15 ngày, nếu tổ chức, cá nhân không hoàn thành việc hoàn thiện hồ sơ, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên Bộ phận Một cửa thực hiện đóng hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính. Thời hạn giải quyết được tính lại từ đầu sau khi nhận đủ hồ sơ.
Trường hợp hồ sơ đủ điều kiện để được giao khu vực biển, cơ quan thẩm định hồ sơ trình hồ sơ cho người có thẩm quyền giao khu vực biển.
Việc trình, giải quyết hồ sơ thực hiện như sau:
- Trong thời hạn không quá 01 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc thẩm định hồ sơ, cơ quan thẩm định hồ sơ có trách nhiệm trình hồ sơ cho người có thẩm quyền giao khu vực biển;
- Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thẩm định trình hồ sơ, người có thẩm quyền xem xét, ra quyết định giao khu vực biển.
Trường hợp người có thẩm quyền quyết định không giao khu vực biển, cơ quan thẩm định hồ sơ trả lại hồ sơ cho Bộ phận Một cửa kèm theo thông báo bằng văn bản trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên Bộ phận Một cửa thực hiện đóng hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.
Quyết định giao khu vực biển phải được gửi đến cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đặc biệt là để vận hành thông suốt chính quyền địa phương trong lĩnh vực này, khai thác và sử dụng tài nguyên biển hiệu quả, bền vững.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Điều kiện sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi - Ảnh minh họa.
Gộp 02 thủ tục hành chính thành 01 thủ tục
Trong đó, Nghị định số 43/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 về "Điều kiện cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi " thành "Điều kiện sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi". Như vậy Nghị định số 43/2026/NĐ-CP sửa đổi theo hướng gộp 02 thủ tục hành chính thành 01 thủ tục hành chính.
Nghị định số 43/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi như sau:
1- Sinh vật biến đổi gen được đề nghị cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Sinh vật biến đổi gen được Hội đồng an toàn thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen thẩm định hồ sơ đăng ký cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi (Hội đồng an toàn thực phẩm, thức ăn chăn nuôi) kết luận sinh vật biến đổi gen đó không có các rủi ro không kiểm soát được đối với sức khỏe con người, vật nuôi;
b) Sinh vật biến đổi gen được ít nhất 05 nước phát triển có nền công nghệ sinh học tiên tiến trong nhóm các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) hoặc Nhóm các nước có nền kinh tế lớn (G20) cho phép sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và chưa xảy ra rủi ro ở các nước đó.
2. Sinh vật biến đổi gen đã được cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm thì được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.
Quy định mới về cấp, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
Đồng thời, Nghị định số 43/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung "Điều 33. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi" tại Nghị định số 69/2010/NĐ-CP thành "Điều 33. Cấp, cấp lại và thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi".
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.
Cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
a) Hồ sơ đăng ký cấp Giấy xác nhận cho đối tượng sinh vật biến đổi gen quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Điều 16 Nghị định này là hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử gồm: Bản chính Đơn đăng ký cấp Giấy xác nhận theo quy định; Bản chính Báo cáo đánh giá rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối với sức khỏe con người và vật nuôi (Báo cáo đánh giá rủi ro) (kèm theo bản điện tử) theo quy định; Bản chính Báo cáo tóm tắt đánh giá rủi ro (kèm theo bản điện tử) theo quy định.
b) Hồ sơ đăng ký cấp Giấy xác nhận cho đối tượng sinh vật biến đổi gen quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Điều 16 Nghị định này, gồm: các thành phần theo quy định tại điểm a ở trên và bản chính hoặc bản sao kèm theo bản dịch tiếng Việt giấy xác nhận hoặc văn bản tương đương của cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi tại ít nhất 05 nước phát triển;
c) Trình tự thực hiện:
Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ quy định tại điểm a hoặc điểm b ở trên đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường bằng một trong các hình thức: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra và tiếp nhận ngay khi hồ sơ đảm bảo tính đầy đủ đối với trường hợp nộp trực tiếp; kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ khi đảm bảo tính đầy đủ trong 01 ngày làm việc đối với trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia, trường hợp hồ sơ không hợp lệ trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hồ sơ hợp lệ, tổ chức, cá nhân đăng ký có trách nhiệm nộp phí thẩm định hồ sơ đăng ký cấp Giấy xác nhận theo quy định hiện hành.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập Hội đồng an toàn thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ và tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện đăng tải Báo cáo Tóm tắt đánh giá rủi ro trên Trang thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để lấy ý kiến rộng rãi. Trong 20 ngày làm việc kể từ ngày thông tin được đăng tải đối với hồ sơ đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định này hoặc 10 ngày làm việc đối với hồ sơ đăng ký theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp ý kiến góp ý (nếu có) theo quy định.
Trong thời hạn 17 ngày làm việc kể từ ngày thành lập Hội đồng đối với hồ sơ đăng ký theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định này và 67 ngày làm việc kể từ ngày thành lập Hội đồng đối với hồ sơ đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Nghị định số 69/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định này, Hội đồng họp thẩm định và hoàn thành Báo cáo thẩm định theo quy định để đánh giá hồ sơ đăng ký cấp Giấy xác nhận.
Trường hợp Hội đồng đề nghị tổ chức, cá nhân bổ sung hoặc giải trình thông tin, Cơ quan chuyên môn gửi văn bản yêu cầu nhưng không quá 22 ngày làm việc đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, không quá 05 ngày làm việc đối với tổ chức, cá nhân trong nước. Hết thời gian bổ sung hoặc giải trình thông tin, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục thẩm định theo hồ sơ hiện có. Thời gian bổ sung hoặc giải trình thông tin không tính vào thời gian thẩm định hồ sơ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc từ khi có kết quả thẩm định của Hội đồng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ Y tế đối với hồ sơ Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm. Bộ Y tế có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày Bộ Nông nghiệp và Môi trường có văn bản đề nghị.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc từ khi có văn bản của Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm theo hình thức bản giấy hoặc bản điện tử theo quy định; trường hợp không cấp, trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc từ khi có kết quả thẩm định của Hội đồng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi theo hình thức bản giấy hoặc bản điện tử theo quy định; trường hợp không cấp, trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày quyết định cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường công khai thông tin về Giấy xác nhận trên Trang thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
a) Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi bị xem xét thu hồi trong các trường hợp sau đây:
Có bằng chứng khoa học mới về rủi ro của sinh vật biến đổi gen đã được cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.
Tổ chức, cá nhân cố tình cung cấp sai thông tin có tính chất quyết định cho việc cấp Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định vi phạm một trong các trường hợp quy định tại điểm a khoản này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi theo hình thức bản giấy hoặc bản điện tử, đồng thời công khai trên Trang thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
c) Kể từ ngày có quyết định thu hồi Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, tổ chức, cá nhân không được sử dụng sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.
Bổ sung quy định về việc sử dụng sinh vật biến đổi gen trong điều kiện sản xuất khép kín
Ngoài ra, Nghị định số 43/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 37a sau Điều 37 quy định việc cấp, cấp lại và thu hồi Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín.
Nghị định số 43/2026/NĐ-CP quy định Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp, cấp lại và thu hồi Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín.
Sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín đảm bảo các yêu cầu:
- Có nguồn gốc từ sinh vật nhận, sinh vật cho không gây bệnh cho con người, động vật, thực vật, không ảnh hưởng đến môi trường và đa dạng sinh học;
- Có lịch sử sử dụng an toàn trong sản xuất khép kín theo tiêu chuẩn của ít nhất 01 quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) hoặc Nhóm các nước có nền kinh tế lớn (G20).
Điều kiện đối với cơ sở sản xuất khép kín
- Có hệ thống sản xuất khép kín đảm bảo không phát tán sinh vật biến đổi gen ra môi trường bên ngoài;
- Có hệ thống xử lý chất thải, khí thải, nước thải đã được cơ quan môi trường cấp phép;
- Có quy trình công nghệ vận hành theo tiêu chuẩn về sản xuất khép kín của ít nhất 01 quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) hoặc Nhóm các nước có nền kinh tế lớn (G20).
Cấp Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín
Hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử được số hóa, gồm: Bản chính Đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín theo quy định; Bản chính Thuyết minh đăng ký Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín theo quy định.
Trình tự thực hiện: Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định ở trên đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường bằng một trong các hình thức: Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra và tiếp nhận ngay hồ sơ khi đảm bảo tính đầy đủ đối với trường hợp nộp trực tiếp; kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ khi đảm bảo tính đầy đủ trong 01 ngày làm việc đối với trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia, trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập Hội đồng an toàn sinh học.
Trong thời hạn 50 ngày làm việc kể từ ngày được thành lập, Hội đồng tổ chức họp và hoàn thành báo cáo kết quả thẩm định hồ sơ và gửi Cơ quan chuyên môn được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ định để trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Trường hợp Hội đồng đề nghị tổ chức, cá nhân bổ sung hoặc giải trình thông tin, Cơ quan chuyên môn gửi văn bản yêu cầu nhưng không quá 22 ngày làm việc đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, không quá 05 ngày làm việc đối với tổ chức, cá nhân trong nước. Hết thời gian bổ sung hoặc giải trình thông tin, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục thẩm định theo hồ sơ hiện có. Thời gian bổ sung hoặc giải trình thông tin không tính vào thời gian thẩm định hồ sơ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả của Hội đồng an toàn sinh học và hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp Giấy chứng nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng trong sản xuất khép kín theo hình thức bản giấy hoặc bản điện tử theo quy định; trường hợp không cấp, trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.12/2026/NQ-CP ngày 26/01/2026 về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu trực thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh.
Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có nhiệm vụ xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng Dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên.
Nghị quyết này quy định về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu (gọi chung là Ban Chỉ huy quân sự cấp xã) trực thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh (gọi chung là Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh) trong thời gian chưa sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật có quy định liên quan đến Ban Chỉ huy quân sự cấp xã.
Vị trí, chức năng của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã
Theo Nghị quyết, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã là cơ quan quân sự địa phương trực thuộc Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh.
Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có chức năng tham mưu với đảng ủy, chỉ huy cấp trên; đảng ủy, chính quyền địa phương cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng ở địa phương; tổ chức xây dựng, quản lý, chỉ huy, điều hành đơn vị và lực lượng vũ trang thuộc quyền vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn cấp xã.
Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, trụ sở riêng.
Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã
Nghị quyết nêu rõ, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có nhiệm vụ tham mưu cho đảng ủy, chỉ huy cấp trên; đảng ủy, chính quyền cấp xã lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã về tổ chức, xây dựng, điều động lực lượng dân quân theo quy định của pháp luật.
Tham mưu cho đảng ủy, chính quyền cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về công tác quốc phòng địa phương; chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở địa phương; chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang khi có tình huống về quốc phòng theo quy định của pháp luật.
Về huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã chủ trì tham mưu cho đảng ủy, chính quyền cấp xã tổ chức bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, diễn tập chiến đấu trong khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự, tìm kiếm, cứu nạn; chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng cùng cấp xây dựng văn kiện tác chiến và thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu; xây dựng kế hoạch và tổ chức huấn luyện cho lực lượng thường trực, Dân quân tự vệ theo kế hoạch huấn luyện chiến đấu của Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh.
Tổ chức hội thi, hội thao; tham gia hội thi, hội thao các cấp; duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chiến đấu của các lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ thuộc quyền; phối hợp với các đơn vị Công an, Quân đội và lực lượng khác trên địa bàn trong diễn tập, hội thi, hội thao, phục vụ chiến đấu và chiến đấu; tham gia phòng, chống hoạt động khủng bố, phá hoại, gây rối, bạo loạn, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Về xây dựng lực lượng, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có nhiệm vụ xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng Dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên; chủ trì tham mưu cho Hội đồng nghĩa vụ quân sự cấp xã về công tác tuyển quân; thực hiện công tác tuyển sinh quân sự; phối hợp các cơ quan, tổ chức liên quan tiếp nhận, hướng nghiệp việc làm cho quân nhân xuất ngũ.
Về xây dựng khu vực phòng thủ, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị cùng cấp tham mưu, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng tiềm lực trong khu vực phòng thủ và hoạt động của các lực lượng trong khu vực phòng thủ; chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang giữ vững khu vực phòng thủ trong mọi tình huống.
Ngoài ra, Ban Chỉ huy quân sự cấp xã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị cùng cấp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh; quản lý, tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo quy định của pháp luật; phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân; phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh trên địa bàn...
Tổ chức của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã
Ban Chỉ huy quân sự cấp xã gồm Chỉ huy trưởng, Chính trị viên do Bí thư đảng ủy cấp xã kiêm nhiệm, Phó Chỉ huy trưởng, Chính trị viên phó, các trợ lý và nhân viên chuyên môn kỹ thuật.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định về tổ chức, biên chế, nhiệm vụ và các chức danh của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, bảo đảm không tăng tổng biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/01/2026 đến hết ngày 28/02/2027.
Trong thời gian Nghị quyết này có hiệu lực, nội dung quy định tại Điều 20, điểm đ khoản 1 Điều 23 Luật Dân quân tự vệ số 48/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 98/2025/QH15 và nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác với quy định tại Nghị quyết này thì thực hiện theo Nghị quyết này.
Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình vừa ký Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 26/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự.
Bộ Công an xây dựng Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2024/TT-BCA ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ"
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Để triển khai thi hành kịp thời, thống nhất, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự (sau đây viết gọn là Luật) với mục đích xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.
Tổ chức tuyên tuyền, phổ biến các quy định của Luật
Theo Kế hoạch, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình khác phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức tuyên tuyền, phổ biến các quy định của Luật. Thời gian thực hiện:Năm 2026 và các năm tiếp theo.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, pháp luật về cảnh vệ; nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; cư trú; căn cước; lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; trật tự, an toàn giao thông đường bộ; đường bộ; quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo.
Rà soát văn bản quy phạm pháp luật
Kế hoạch nêu rõ, Bộ Công an tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố gửi kết quả rà soát về Bộ Công an trước tháng 6 năm 2026.
Bộ Công an tổng hợp kết quả rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.
Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật
Theo Kế hoạch, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về thiết bị giám sát hành trình, ghi nhận hình ảnh người lái xe trên phương tiện giao thông đường bộ; đầu tư hệ thống quản lý dữ liệu giám sát hành trình, ghi nhận hình ảnh người lái xe trên phương tiện giao thông đường bộ. Thời hạn trình: Tháng 4 năm 2026.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 165/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; xây dựng Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2025/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ; lưu hành xe quá khổ giới hạn, xe quá tải trọng, xe bánh xích trên đường bộ; hàng siêu trường, siêu trọng, vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ; cấp giấy phép lưu hành cho xe quá tải trọng, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích, xe vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng trên đường bộ. Thời hạn trình: Tháng 4 năm 2026.
Tháng 4/2026 xây dựng Thông tư sửa đổi về hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2024/TT-BCA ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ", Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe" và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "Trung tâm chỉ huy giao thông". Thời hạn trình: Tháng 4 năm 2026.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tại cuộc họp tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 46/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tại cuộc họp tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.
Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo sự chuyển biến tích cực trong tổ chức triển khai thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Thông báo kết luận nêu rõ, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới; năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; trong bối cảnh thế giới đang có những chuyển biến nhanh, phức tạp, nhiều yếu tố tác động đa chiều, trong đó có lĩnh vực văn hóa.
Nâng cao chất lượng các danh hiệu văn hóa phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển văn hóa
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo sự chuyển biến tích cực trong tổ chức triển khai thực hiện Phong trào, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Chỉ đạo Trung ương đề nghị các bộ, ngành, địa phương, thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương, các cơ quan liên quan thực hiện tích cực, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra.
Trong đó, các bộ, ngành, địa phương, thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương, các cơ quan liên quan quán triệt, phổ biến và triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa giai đoạn 2026 - 2035, Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.
Đồng thời, rà soát hệ thống văn bản pháp luật liên quan để sửa đổi hoặc ban hành mới các văn bản, hướng dẫn theo thẩm quyền trong trường hợp cần thiết hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới tư duy, nội dung, phương pháp triển khai Phong trào gắn với chuyển đổi số và phát huy vai trò tự quản của cộng đồng; tiếp tục nghiên cứu, tham mưu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các danh hiệu văn hóa phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam và phát động các phong trào thi đua phù hợp với thực tiễn ngành, địa phương.
Tăng cường lồng ghép hiệu quả với các phong trào, chương trình, hoạt động về văn hóa
Ban Chỉ đạo Trung ương đề nghị các bộ, ngành, địa phương, thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương, các cơ quan liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống; truyền thông có trọng tâm, trọng điểm và chú trọng đổi mới nội dung, cách làm; kiên quyết đấu tranh với hành vi phản văn hóa, lệch chuẩn về văn hóa; tăng cường lồng ghép hiệu quả với các phong trào, chương trình, hoạt động về văn hóa và phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội.
Tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình phối hợp giữa các cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương; tổ chức các đoàn kiểm tra thực tế tình hình triển khai thực hiện Phong trào tại một số bộ, ngành, địa phương.
Tiếp tục lựa chọn chủ đề, xác định "điểm nhấn" để triển khai phù hợp, như phát động một số phong trào có sự lan tỏa mạnh mẽ về bảo đảm vệ sinh môi trường, văn hóa giao thông, phòng, chống bạo lực học đường… Việc triển khai cần có kế hoạch cụ thể, rõ nội dung, cách làm, nguồn lực, tiêu chí đánh giá, có phát động, triển khai kiểm tra, sơ kết, tổng kết, tôn vinh…và làm kiên trì, thường xuyên; trên cơ sở đó nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay.
Đẩy mạnh xã hội hóa, tiếp tục khuyến khích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng tích cực tham gia, hưởng ứng Phong trào bằng nhiều hình thức phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc)
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 164/QĐ-TTg ngày 26/01/2026 phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc).
Xây dựng cửa khẩu quốc tế Móng Cái trở thành một trong những “cửa khẩu kiểu mẫu, thông minh, cửa khẩu tiên tiến”
Mục tiêu tổng quát của Đề án nhằm xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung sớm trở thành một trong những trung tâm, đầu mối hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch và kinh tế cửa khẩu trọng điểm của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; đồng thời, là cửa ngõ quan trọng trong thông thương hàng hóa của các nước ASEAN với thị trường Trung Quốc và các nước khác.
Xây dựng cửa khẩu quốc tế Móng Cái trở thành một trong những "cửa khẩu kiểu mẫu, thông minh, cửa khẩu tiên tiến" dựa trên ứng dụng công nghệ cao, có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại kết nối với cảng biển, sân bay.
Phấn đấu thời gian thông quan dự kiến rút ngắn còn khoảng 04 - 06 giờ
Đề án cũng đặt mục tiêu cụ thể nâng cao năng lực và hiệu suất thông quan, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi của phương tiện, hàng hóa và hành khách, tiết kiệm chi phí cho người dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, công khai, minh bạch, tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng; góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân biên giới; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia, bảo đảm an ninh mạng.
Phấn đấu thời gian thông quan dự kiến rút ngắn còn khoảng 04 - 06 giờ, giảm khoảng 30 - 40% chi phí thông quan, chi phí bến bãi, vận chuyển và dịch vụ tại cửa khẩu hai bên; bảo đảm dòng chảy hàng hóa thông suốt, hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Đến năm 2030, nâng cao năng lực thông quan tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái lên khoảng 3 lần so với thời điểm hiện tại.
Phạm vi của Đề án
Xây dựng mô hình cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc) trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại cho luồng kiểm soát người xuất nhập cảnh tại khu vực cầu Bắc Luân I và luồng kiểm soát phương tiện vận tải, hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực cầu Bắc Luân II, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông qua lại cửa khẩu biên giới, đồng thời tạo công cụ quản lý hiện đại phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng tại cửa khẩu.
Mô hình cửa khẩu thông minh thực hiện trong một phạm vi tách biệt, khép kín, áp dụng đối với một số chủng loại mặt hàng cụ thể trong thời gian thí điểm, bên cạnh đó phương thức giao nhận hàng hóa truyền thống vẫn được duy trì hoạt động đồng thời.
Các mặt hàng lựa chọn thực hiện thông quan theo mô hình cửa khẩu thông minh: Hàng nông sản (rau, quả), thủy sản đông lạnh, hàng điện tử, linh kiện điện tử của Việt Nam và mặt hàng điện tử, linh kiện điện tử xuất khẩu của Trung Quốc và một số mặt hàng khác để đảm bảo mục tiêu, hiệu quả của Đề án.
Lộ trình triển khai thực hiện
Giai đoạn 1: Năm 2026
Tại khu vực cầu Bắc Luân I: Triển khai tại luồng kiểm soát người xuất nhập cảnh trên cơ sở hạ tầng hiện có, đối tượng phục vụ là cư dân biên giới và hành khách, dự kiến hoàn thành trong quý I năm 2026.
Tại khu vực cầu Bắc Luân II: Xây dựng cơ sở hạ tầng công trình cửa khẩu thông minh, xây dựng luồng chuyên dụng và lắp đặt trang thiết bị để xe tự hành không người lái IGV hoạt động (mục tiêu hoạt động 24/7), xây dựng Trung tâm điều hành thông minh (IOC).
Giai đoạn 2: Giai đoạn 2027 - 2030
Tại khu vực cầu Bắc Luân I: Mở rộng phạm vi ranh giới cửa khẩu để đầu tư mở rộng không gian, diện tích dành cho xuất nhập cảnh, tăng số luồng kiểm soát tự động.
Tại khu vực cầu Bắc Luân II: Triển khai mô hình cửa khẩu thông minh, tăng số làn chuyên dụng và nâng cấp năng lực thông quan xuất nhập khẩu theo mô hình xe tự hành IGV hoặc xây dựng mô hình vận chuyển hàng hóa mono-rail (sky-rail) tùy tình hình lưu lượng hàng hóa trên thực tế. Phối hợp với bên Bạn nghiên cứu xây dựng công trình qua biên giới phục vụ hoạt động cửa khẩu thông minh; tiếp tục mở rộng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công trình cửa khẩu thông minh (Công viên logistics Bắc Luân II, Trung tâm thương mại điện tử, hàng xuất nhập khẩu, kho hậu cần...).
Thời gian thí điểm: Đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030.
Tổ chức lại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp thành các cơ sở thuộc Bệnh viện Việt Đức
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 26/01/2026 về việc chuyển giao Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang Bộ Y tế quản lý. Tổ chức lại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp thành các cơ sở thuộc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Y tế thực hiện chuyển giao Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Bộ Y tế quản lý; chỉ đạo và hướng dẫn Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp thống kê đầy đủ hiện trạng về số lượng người làm việc; tài chính, tài sản, trụ sở, hồ sơ, tài liệu phục vụ cho công tác bàn giao về Bộ Y tế theo đúng quy định.
Bộ Y tế tiếp nhận nguyên trạng Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp về Bộ Y tế để quản lý theo quy định; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện việc điều chuyển số lượng người làm việc, bàn giao tài chính, tài sản, trụ sở, hồ sơ, tài liệu của Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp về Bộ Y tế để quản lý, bảo đảm chặt chẽ không để xảy ra thất thoát, tiêu cực, lãng phí tài chính, tài sản theo đúng quy định pháp luật.
Bộ Y tế tổ chức lại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp thành các cơ sở thuộc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh cơ chế tự chủ theo yêu cầu tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định của pháp luật./.
Theo baochinhphu.vn
Nguồn Lạng Sơn : https://baolangson.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-ngay-27-1-2026-1-5075174.html