Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/1/2026

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/1/2026
một ngày trướcBài gốc
Tuyên truyền phòng, chống mua bán người cho người dân.
Ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026-2030 và định hướng đến năm 2035
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 33/QĐ-TTg ngày 07/01/2026 ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026-2030 và định hướng đến năm 2035.
Mục tiêu chung của Chương trình nhằm tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống mua bán người; tập trung thực hiện có hiệu quả quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nâng cao trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội trong công tác phòng, chống mua bán người.
Chủ động phòng ngừa, quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm tội phạm mua bán người và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người, góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, giữ gìn cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc của Nhân dân.
Đổi mới mạnh mẽ việc tổ chức thi hành pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người
Chương trình đưa ra 09 mục tiêu cụ thể như sau:
1- Bảo đảm sự thống nhất và xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống mua bán người từ trung ương đến cơ sở, gắn với chiến lược tổng thể về bảo đảm an ninh, trật tự, an ninh con người, an ninh mạng, phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện rõ tính nhất quán, nhân văn, tiến bộ trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống mua bán người.
2- Tập trung rà soát, hoàn thiện pháp luật, chính sách liên quan đến phòng, chống mua bán người, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, khả thi. Nghiên cứu sửa đổi quy định về tội phạm mua bán người trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) phù hợp với thực tiễn, điều kiện của Việt Nam và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Đổi mới mạnh mẽ việc tổ chức thi hành pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người.
3- Tăng cường biện pháp phòng ngừa xã hội, kết hợp chặt chẽ với các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; kịp thời phát hiện, khắc phục những sơ hở, thiếu sót, nguyên nhân làm nảy sinh và phát triển tội phạm mua bán người.
Kiên quyết tấn công, trấn áp mạnh tội phạm mua bán người; điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các đối tượng phạm tội
4- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống, về pháp luật, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, gia đình, cá nhân trong phòng, chống mua bán người để người dân chủ động phòng ngừa, cảnh giác và tích cực tham gia phòng, chống mua bán người.
5- Tăng cường thực thi pháp luật về phòng, chống mua bán người. Kiên quyết tấn công, trấn áp mạnh tội phạm mua bán người, nhất là đường dây, tổ chức tội phạm, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm trên không gian mạng, tội phạm mua bán người nhằm mục đích cưỡng bức lao động và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người. Phấn đấu giảm tội phạm mua bán người, không để hình thành các băng nhóm, tổ chức tội phạm mua bán người. Bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các đối tượng phạm tội mua bán người theo quy định của pháp luật.
6- Kịp thời giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân, bảo đảm chính xác, hiệu quả. Làm tốt công tác sàng lọc, xác định nạn nhân phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực, tập trung vào các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, những trường hợp trở về từ các trung tâm lừa đảo trực tuyến. Thực hiện đầy đủ, phù hợp các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trên cơ sở nguyên tắc lấy nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân làm trung tâm, bảo đảm bình đẳng giới.
Thúc đẩy đầu tư nguồn lực và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ công tác phòng, chống mua bán người
7- Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, tập trung vào xây dựng cơ chế hợp tác chiến lược, thiết lập các khuôn khổ pháp lý, trao đổi thông tin thường xuyên, phối hợp điều tra, đào tạo, nâng cao năng lực, góp phần chủ động phòng, chống mua bán người từ sớm, từ xa, từ bên ngoài biên giới, lãnh thổ. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phòng, chống mua bán người của nước ngoài. Tăng cường thông tin đối ngoại về chủ trương, chính sách và quyết tâm, trách nhiệm quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người.
8- Thúc đẩy đầu tư hơn nữa vào nguồn lực và ứng dụng thành tựu tiên tiến về khoa học, công nghệ phục vụ công tác phòng, chống mua bán người. Tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế về tài chính, khoa học, kỹ thuật phục vụ công tác phòng, chống mua bán người. Tăng cường xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phòng, chống mua bán người đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống mua bán người.
9- Vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu nạn nhân bị mua bán tạo nền tảng xây dựng dữ liệu thống kê về công tác phòng, chống mua bán người, bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, liên thông, an ninh, an toàn.
08 nhiệm vụ giải pháp
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Chương trình đưa ra 08 nhiệm vụ giải pháp và phân công cho các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan triển khai về: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo; công tác phòng ngừa xã hội; công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tội phạm mua bán người; đấu tranh phòng, chống mua bán người; công tác phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người; công tác giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người; công tác hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người…
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Cơ quan trung ương của các Tổ chức chính trị - xã hội theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hằng năm và từng giai đoạn chủ động xây dựng, ban hành kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện nghiêm túc Chương trình phòng, chống mua bán người; định kỳ 06 tháng, 01 năm có báo cáo kết quả gửi về Bộ Công an để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Giao Bộ Công an thường trực giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan nêu trên. Định kỳ sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại buổi làm việc, kiểm tra các dự án thuộc Chuỗi Dự án Trung tâm Điện lực Ô Môn – Lô B
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 12/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại buổi làm việc, kiểm tra các dự án thuộc Chuỗi Dự án Trung tâm Điện lực Ô Môn – Lô B.
3 mục tiêu của các dự án sử dụng khí Lô B - Ô Môn
Thông báo kết luận nêu rõ: Các dự án sử dụng khí Lô B - Ô Môn gồm 04 dự án: Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Ô Môn I (660MW) giai đoạn vận hành năm 2025-2030; NMNĐ Ô Môn II (1.050MW) giai đoạn vận hành năm 2027-2028; NMNĐ Ô Môn III (1.050MW) giai đoạn vận hành năm 2028-2030; NMNĐ Ô Môn IV (1.050MW) giai đoạn vận hành năm 2028 và thuộc Danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng. Do đó, quá trình triển khai bảo đảm 03 mục tiêu: (i) Kịp thời về tiến độ theo đúng yêu cầu của Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII; (ii) Tuyệt đối không để mất an ninh năng lượng; (iii) Áp dụng công nghệ mới nhất, tốt nhất, thân thiện với môi trường nhất.
4 nhiệm vụ cần tiếp tục thực hiện
Theo đó, một số nội dung cần lưu ý, tiếp tục phát huy: (i) Bảo đảm yêu cầu cao về kỹ thuật và công nghệ; (ii) Quá trình hợp tác đầu tư đảm bảo hài hòa về lợi ích giữa các bên và tuân thủ đúng quy định pháp luật; (iii) Coi trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ vận hành nhà máy sau khi hoàn thành dự án; (iv) Tận dụng tối đa, hiệu quả nhất về nguồn khí, đảm bảo thời gian đồng bộ giữa các dự án thượng nguồn khai thác khí và tiêu thụ khí tại các dự án hạ nguồn.
Phó Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của Điện lực Việt Nam (EVN), Công nghiệp-Năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) và của Ban quản lý dự án đã bám sát tiến độ, kế hoạch thực hiện Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ hoàn thành các thủ tục đầu tư các dự án và triển khai theo quy định, nhất là dự án Chuyển đổi nhiên liệu NMNĐ Ô Môn I sử dụng khí Lô B, tiến hành khởi công xây dựng Dự án NMNĐ Ô Môn IV, cơ bản hoàn thành các thủ tục đầu tư Dự án NMNĐ Ô Môn III.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát các dự án
Để làm tốt các nhiệm vụ sắp tới, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Công Thương thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình triển khai các dự án để đề xuất giải pháp, bảo đảm tiến độ theo quy hoạch được duyệt, bảo đảm triển khai theo đúng tiến độ, kịp thời về thời gian.
Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ chỉ đạo, hỗ trợ thực hiện theo thẩm quyền, giám sát các chủ đầu tư thực hiện đúng tiến độ dự án, bảo đảm đưa dự án vào vận hành đúng giai đoạn theo quy hoạch. Trong đó, tiếp tục chỉ đạo hoàn tất việc bàn giao mặt bằng sạch cho dự án xây dựng tuyến đường ống vận chuyển khí (Trung nguồn) đối với chiều dài đoạn ống thuộc Thành phố Cần Thơ trong Quí I năm 2026.
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang chỉ đạo hoàn tất việc bàn giao mặt bằng sạch cho dự án xây dựng tuyến đường ống vận chuyển khí đối với chiều dài đoạn ống thuộc địa bàn tỉnh trong Quí I năm 2026.
Đưa NMNĐ Ô Môn I sử dụng khí Lô B trong năm 2027
Dự án Chuyển đổi nhiên liệu NMNĐ Ô Môn I sử dụng khí Lô B, Phó Thủ tướng yêu cầu khẩn trương triển khai đúng tiến độ, hoàn thành công tác chuyển đổi nhiên liệu, bảo đảm đón dòng khí đầu tiên vào quý III năm 2027, đưa NMNĐ Ô Môn I sử dụng khí Lô B trong năm 2027. Trong quá trình triển khai, phối hợp với Bộ Công Thương thống nhất thời gian ngừng vận hành nhà máy bảo đảm công tác điều độ, vận hành hệ thống điện, an ninh cung cấp điện.
Phấn đấu rút ngắn thời gian hoàn thành NMNĐ Ô Môn III
Đối với Dự án NMNĐ Ô Môn III, liên quan đến nguồn vốn ODA, Bộ Công Thương phối hợp với PVN tiếp tục trao đổi với phía Nhật Bản, báo cáo Phó Thủ tướng, Trưởng Ban Chỉ đạo ODA các nội dung khó khăn, vướng mắc nếu vượt thẩm quyền; phấn đấu rút ngắn thời gian hoàn thành NMNĐ Ô Môn III.
Đưa vào sử dụng NMNĐ Ô Môn IV trước năm 2028
Dự án NMNĐ Ô Môn IV tiếp tục thực hiện tốt các công tác xây dựng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, chất lượng, hoàn thành, đưa vào sử dụng NMNĐ Ô Môn IV trước năm 2028; trong quá trình thi công bảo đảm thực hiện đúng quy trình an toàn cho người lao động và an toàn cho công trình.
Không được để chậm tiến độ Dự án NMNĐ Ô Môn II
Về Dự án NMNĐ Ô Môn II, Phó Thủ tướng chỉ đạo: Hiện tại các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách áp dụng cho dự án nhiệt điện khí sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước đã được quy định rõ ràng, cụ thể, tạo môi trường thuận lợi nhất cho việc đầu tư và hợp tác quốc tế. Do đó, các bên liên quan như PVN, EVN và Chủ đầu tư dự án có trách nhiệm đàm phán, thỏa thuận tại các hợp đồng thương mại (mua bán khí, mua bán điện) theo thẩm quyền, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về điện lực và các quy định pháp luật khác có liên quan; bảo đảm kế hoạch thực hiện dự án, không được để chậm tiến độ. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp cơ quan có liên quan nghiên cứu, xem xét các nội dung đề xuất, kiến nghị của Chủ đầu tư theo quy định của pháp luật, trên tinh thần thúc đẩy dự án hoàn thành đúng tiến độ; (ii) nghiên cứu, xem xét xử lý theo thẩm quyền và quy định đối với dự án trong trường hợp chậm tiến độ.
Về Hợp đồng mua bán điện, các cơ chế, chính sách liên quan đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng chung cho tất cả các dự án nhà máy điện sử dụng khí thiên nhiên trong nước, Phó Thủ tướng yêu cầu các bên liên quan thực hiện đàm phán, thỏa thuận với EVN theo quy định và thẩm quyền; bảo đảm tiến độ chung của tổng thể các dự án.
Về việc cấp khí Lô B cho hộ tiêu thụ tại Cà Mau, Phó Thủ tướng lưu ý PVN cân nhắc, phối hợp với đối tác, các bên liên quan đánh giá kỹ chiến lược, khả năng cung cấp, thời hạn sử dụng khí của các Dự án Trung tâm Điện lực Ô Môn – Lô B, đảm bảo lợi ích kinh tế.
Danh sách 14 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 37/QĐ-TTg ngày 08/01/2026 ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
Theo Quyết định, tổ chức lại Viện Ứng dụng công nghệ thành Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
Các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, bao gồm:
1. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
2. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc.
3. Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
4. Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia.
5. Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia.
6. Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
7. Trung tâm Internet Việt Nam.
8. Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia.
9. Trung tâm truyền thông khoa học và công nghệ.
10. Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông.
11. Trường Cao đẳng Thông tin và Truyền thông.
12. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia.
13. Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.
14. Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành; thay thế Quyết định số 76/QĐ-TTg ngày 16/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 24/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.
Viện Ứng dụng công nghệ tiếp tục hoạt động cho đến khi Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ.
Đồng thời, rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ bảo đảm tinh gọn, giảm đầu mối, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch đơn vị sự nghiệp công lập trong các ngành, lĩnh vực theo quy định, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và quyết định của cấp có thẩm quyền./.
Nguồn Chính Phủ : https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-ngay-8-1-2026-102260108175957456.htm