Thủ tướng đôn đốc thực hiện nhiệm vụ phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 07/CĐ-TTg ngày 1/2/2026 về việc đôn đốc triển khai thực hiện nhiệm vụ phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.
Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng thiết yếu, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng; giải quyết tốt việc lưu thông hàng hóa qua các cửa khẩu, tuyệt đối không để ách hàng hóa; chi trả gộp 2 tháng lương hưu tháng 2 và tháng 3/2026; đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động; thăm hỏi, động viên, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình có công với cách mạng…
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tăng cường phương tiện vận tải dịp Tết, không để xảy ra hiện tượng chèn ép giá
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký ban hành Công điện 10/CĐ-TTg ngày 4/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác tổ chức vận tải bảo đảm trật tự, an toàn giao thông dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và mùa Lễ hội xuân năm 2026.
Trong Công điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được giao tăng cường phương tiện vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân, nhất là vận tải hành khách công cộng để kết nối và hỗ trợ hành khách đi lại thuận tiện tại ga đường sắt, cảng hàng không, bến xe, bến tàu, tuyệt đối không để hành khách chậm về quê đón Tết do không có phương tiện vận chuyển; không để xảy ra hiện tượng chèn ép giá, lợi dụng tăng giá không đúng quy định, phòng ngừa tai nạn giao thông dịp Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội xuân năm 2026.
Bộ Công an chỉ đạo tăng cường lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát, kiểm tra an toàn giao thông tuyến đường bộ cao tốc, đường giao thông địa phương, các phương tiện vận tải hành khách như xe ô tô khách có giường nằm hai tầng; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, tập trung quyết liệt xử lý những vi phạm là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông, như: vi phạm nồng độ cồn, tốc độ, tải trọng, đi không đúng phần đường, làn đường, đi ngược chiều, dừng, đỗ trái phép, quay đầu xe, tránh, vượt không đúng quy định... kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ đua xe trái phép, tụ tập gây rối trật tự công cộng...
Quy định tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích từ đất vườn, đất nông nghiệp sang đất ở
Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Trong đó, Nghị định số 50/2026/NĐ-CP quy định về tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15:
1. Việc tính tiền sử dụng đất được áp dụng một lần cho một hộ gia đình, cá nhân và được tính trên 01 thửa đất do hộ gia đình, cá nhân lựa chọn; lần chuyển mục đích sau trên thửa đất đó hoặc chuyển mục đích của thửa đất khác thì tính tiền sử dụng đất bằng 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất (kể cả nhiều thửa đất trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) được phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này thì hộ gia đình, cá nhân đó được lựa chọn 01 thửa đất để áp dụng tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này. Hộ gia đình, cá nhân cam kết về nội dung này và chịu trách nhiệm về cam kết của mình, thể hiện tại đơn đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất.
Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện hộ gia đình, cá nhân đã được áp dụng việc tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 nhưng vẫn đề nghị lựa chọn thửa đất để tiếp tục được hưởng chính sách này thì chuyển thông tin đến cơ quan thuế để cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất bằng mức 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất; số tiền sử dụng đất hộ gia đình, cá nhân đã nộp (nếu có) được trừ vào số tiền sử dụng đất tính lại; đồng thời, hộ gia đình, cá nhân phải nộp khoản tiền tương đương với mức chậm nộp tiền sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất đến thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền có văn bản chuyển vi phạm đến cơ quan thuế theo pháp luật về quản lý thuế.
3. Việc tính số lần chuyển mục đích sử dụng đất, xác định hạn mức giao đất ở, lựa chọn thửa đất chuyển mục đích sử dụng đất để áp dụng theo quy định tại Điều này được tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
4. Giá đất ở và giá đất nông nghiệp để tính tiền sử dụng đất ở, tiền sử dụng đất nông nghiệp là giá đất trên bảng giá đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai tại thời điểm có quyết định của cơ quan nhà nước cho thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
5. Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất được xác định như sau:
a) Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này là hạn mức giao đất ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hạn mức này được xác định cho từng hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật thì được tính là 01 đối tượng sử dụng đất để được áp dụng chính sách tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này.
b) Trường hợp nhiều hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất thì diện tích trong hạn mức giao đất ở được xác định như sau:
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân thì việc xác định diện tích trong hạn mức để tính tiền sử dụng đất được tính theo từng thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và theo nguyên tắc mỗi hộ gia đình, cá nhân được tách thửa chỉ được xác định diện tích đất theo hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất một lần theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất mà không thực hiện hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất thì việc xác định diện tích theo hạn mức giao đất ở được tính theo hạn mức của hộ gia đình hoặc cá nhân được cử là đại diện của những người có chung quyền sử dụng đất.
c) Hạn mức giao đất ở tại địa phương đối với hộ gia đình khi tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này được tính theo hạn mức giao đất ở cho cá nhân tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không phụ thuộc vào số thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất.
6. Việc tính tiền sử dụng phải nộp đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 thực hiện theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP.
7. Việc thu, nộp, kiểm tra, quản lý số tiền sử dụng đất tính theo quy định tại Nghị định này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP), quy định tại Nghị định này và pháp luật về quản lý thuế.
Sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai
Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Trong đó, Nghị định 49/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai.
Nghị định quy định phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện trong lĩnh vực đất đai như sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp, đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp.
Phát triển đội ngũ cán bộ Mặt trận vững mạnh đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 234/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 phê duyệt Đề án “Bồi dưỡng cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp giai đoạn 2026 - 2031”.
Mục tiêu của Đề án nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.
Chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, trong đó ưu tiên bồi dưỡng cán bộ, công chức chuyên trách Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và cán bộ ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn...
Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược hướng tới mục tiêu truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài một cách chủ động, toàn diện, thống nhất và hiệu quả, qua đó nâng cao nhận thức, thiện cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với đất nước, con người, văn hóa và những thành tựu phát triển của Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế, uy tín, bản sắc và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; góp phần hạn chế tác động của các thông tin có ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Việt Nam; tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch, phát triển kinh tế - xã hội.
Điểm mới quan trọng của Chiến lược là lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng nội dung và thông điệp truyền thông. Trong đó, xác định các trụ cột chính tạo nên hình ảnh Việt Nam; xây dựng hệ thống thông điệp truyền thông trọng tâm, trọng điểm; linh hoạt điều chỉnh theo từng giai đoạn, từng thị trường và từng nhóm công chúng; khai thác các “câu chuyện Việt Nam” - là những câu chuyện, hình mẫu, nhân vật, sự kiện, sáng kiến, sản phẩm tiêu biểu trên các lĩnh vực để lan tỏa hình ảnh đất nước và xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam.
Tạm dừng áp dụng Nghị định số 46 về an toàn thực phẩm đến hết ngày 15/4/2026
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP quyết nghị tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/01/2026 của Chính phủ về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm cho đến hết ngày 15/4/2026; các văn bản này sẽ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 16/4/2026.
Trong thời gian tạm ngưng hiệu lực như nêu trên, Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành Nghị định này tiếp tục có hiệu lực.
Thủ tướng chỉ thị tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/01/2026 về việc tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi và hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh, nâng cao hình ảnh, uy tín quốc gia, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, quyết liệt tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với phương châm 6 rõ "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền"; chịu trách nhiệm về kết quả thực thi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hướng toàn diện, cập nhật, theo thông lệ quốc tế và đúng quy định của pháp luật, phấn đấu hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2026 và duy trì tính bền vững trong những năm tiếp theo...
Triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Nội dung của Kế hoạch gồm: Xây dựng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nội dung của Luật và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; hình thành và triển khai chương trình quốc gia hỗ trợ tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản lý, phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; tổ chức các nội dung hỗ trợ thi hành Luật theo quy định pháp luật.
Trường hợp được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 51/2026/NĐ-CP ngày 02/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo.
Trong đó, Nghị định số 51/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a về xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo (sau đây gọi chung là chi phí đào tạo) đối với người học chương trình giáo dục cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được hưởng học bổng và chi phí đào tạo từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc do nước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với nhà nước Việt Nam mà không chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi tốt nghiệp.
Nghị định quy định trường hợp người học được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn:
a) Xóa chi phí bồi hoàn trong trường hợp người học đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật;
b) Miễn chi phí bồi hoàn một trong các trường hợp sau:
Người học được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận không đủ sức khỏe để làm việc;
Người học chấp hành nghĩa vụ làm việc chưa đủ thời gian theo quy định nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác đến vị trí khác;
Người học do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nên không thể chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn xem xét, quyết định việc miễn chi phí bồi hoàn đối với trường hợp này.
Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 233/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 phê duyệt Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035”.
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2035 tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự xã hội.
Mục đích của Đề án là đổi mới toàn diện công tác phổ biến giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
Tu bổ, phục hồi Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo (Gia Lai)
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 235/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo, tỉnh Gia Lai nhằm phát huy và khai thác có hiệu quả giá trị của Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo trở thành một trong những trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của tỉnh Gia Lai; có giá trị tiêu biểu về du lịch văn hóa, địa chất, địa hình và các di tích khảo cổ học sơ kỳ đá cũ An Khê; phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc Kinh - Ba Na; hình thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch, tạo nguồn thu cho địa phương góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nguồn lực để bảo tồn di tích...