Câu chuyện ấy, vượt qua khuôn viên một ngôi chùa, cho thấy khi Đạo - Đời gặp nhau ở điểm “nhập thế”, lịch sử có thể chuyển hướng ngoạn mục bằng những quyết định kịp thời - sáng suốt - quả cảm. Từ căn phòng nhỏ cạnh nhà Tổ, con đường dẫn tới Mùa thu Cách mạng đã được thắp sáng.
Bức tranh vẽ lại Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng gồm các đồng chí: Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị hiện được treo tại chùa Đồng Kỵ.
“An toàn khu” trong đêm lịch sử 9/3/1945
Đêm 9/3/1945. Tiếng gõ cổng bất ngờ dội vào sân chùa. Ánh đèn quét loang loáng trông ngôi chùa cổ kính rêu phong. Trong căn phòng nhỏ cạnh nhà Tổ, những người “thợ sơn tượng” vội tắt đèn, dép cầm tay, sẵn sàng thoát hiểm qua bờ dậu theo lối đã tính trước.
Ngoài sân, vị trụ trì điềm tĩnh cất giọng: “Có gì đâu, đấy là mấy ông thợ sơn tượng đến tính tiền…”. Câu trả lời bình thản ấy hóa bức bình phong che chắn cho cuộc họp tối mật của Ban Thường vụ mở rộng Trung ương Đảng, giữa thời khắc Nhật đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương.
Từ ngôi chùa làng ở Đồng Kỵ (nay là phường Đồng Nguyên, Bắc Ninh) - nơi Phật pháp và thế sự gặp nhau - mạch nguồn của một văn kiện xoay chuyển cục diện đã hình thành: Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945).
Trong những năm 1940 - 1945, chùa Đồng Kỵ là “địa chỉ đỏ” do sư cụ Thích Thông Hòa trụ trì. Ngôi chùa nghèo nhưng kín đáo, ở giữa “vùng tề” nên ít bị nghi ngờ. Nhà chùa vẫn quen nhịp canh gác, lo cơm nước, che chở cán bộ an toàn ngay giữa lòng địch.
Theo hồi ức của Tổng Bí thư Trường Chinh, sư cụ đã nhận lời giúp đỡ sau hai lần gặp gỡ thăm dò, dặn dò cán bộ “đóng vai thợ sơn tượng” khi ra vào chùa để tránh tai mắt tuần phòng. Cũng chính vị trụ trì đã ứng biến khéo léo trong đêm trương tuần ập đến, giúp cán cán bộ kịp “vượt dậu” sang điểm họp dự bị.
Tư liệu nghiên cứu và các nguồn chính trị - lịch sử xác nhận: Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì khai mạc tại chùa Đồng Kỵ và sau đó chuyển sang làng Đình Bảng (Từ Sơn) để tiếp tục thảo luận trong tình thế khẩn cấp.
Đến ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” tạo bước ngoặt chiến lược dẫn tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Phật giáo “nhập thế” giữa bão táp thời cuộc
Cuộc đảo chính đêm 9/3/1945 không chỉ là biến động quân sự: nó thay đổi hẳn thế đối đầu ở Đông Dương. Chỉ thị 12/3/1945 xác định kẻ thù chính, cụ thể, duy nhất của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật; điều chỉnh khẩu hiệu đấu tranh từ “Đánh đuổi Pháp - Nhật” sang “Đánh đuổi phát xít Nhật”, đồng thời chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.
Khung cảnh tại chùa Đồng Kỵ phản chiếu sinh động tinh thần “hộ quốc an dân” của Phật giáo Việt Nam. Việc nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao (Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị…) có thể hội họp an toàn ở đây cho thấy mạng lưới liên kết Dân - Đạo - Đảng trong kháng Nhật vận hành nhịp nhàng đến mức nào. Câu chuyện “thợ sơn tượng” cho thấy độ ‘nhập thế’ của một ngôi chùa làng khi Tổ quốc lâm nguy và vận nước đã đến.
Với ý nghĩa ấy, chùa Đồng Kỵ không chỉ là một địa điểm họp bí mật, mà đó còn là môi trường an toàn cho một quyết sách lớn thành hình. Không khí đêm ấy - tiếng guốc gỗ khẽ chạm hiên chùa, mùi khói bếp cơm chay, ánh đèn dầu trong phòng cúng Tổ - đối lập căng thẳng với tiếng gõ cổng, ánh đèn pin của trương tuần ngoài sân. Từ lằn ranh mỏng manh giữa bình yên cửa thiền và hiểm nguy thời cuộc, một đường hướng hành động đã định, dẫn đến cơn chuyển động lịch sử của cả dân tộc.
Chân dung Hòa thượng Thích Thông Hòa.
Hòa thượng Thích Thông Hòa - bậc chân tu yêu nước
Trong tham luận tại hội thảo khoa học Đạo Phật với Cách mạng Việt Nam do Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Thượng tọa, Thạc sỹ Thich Thanh Anh chia sẻ nhiều thông tin về Hòa thượng Thích Thông Hòa.
Hòa thượng Thích Thông Hòa, thế danh Phạm Thông Hòa, sinh tại Vũ Thư (Thái Bình) trong một gia đình thấm nhuần Phật pháp. Sớm có chí nguyện xuất gia, ngài miệt mài tu học, trở thành một bậc chân tu uyên thâm, gắn bó trọn đời với cửa thiền, với nền tảng vững chắc cho ý chí phụng sự đạo và đời của mình sau này.
Khi quê hương rơi vào vòng nô lệ, Nhân dân lầm than, cơ cực, tiếng chuông chùa hòa giữa tiếng súng đạn, lời kinh nguyện chan cùng nỗi đau mất nước, nhận thức sâu sắc rằng "nước còn thì đạo còn, nay nước lâm nguy thì đạo cũng lâm nguy, phải giữ lấy nước thì mới giữ được đạo", tinh thần yêu nước sục sôi trong lòng của bậc chân tu.
Hòa thượng Thích Thông Hòa với chân lý "việc đạo không rời việc đời" đã hòa mình vào phong trào quần chúng kháng Nhật, đuổi Tây, giành lại chính quyền. Ngài đã chấp nhận lời yêu cầu của đồng chí Trường Chinh vào năm 1945 để chọn chùa Đồng Kỵ là an toàn khu của Trung ương giữa lòng địch. Chùa Đồng Kỵ dưới sự trụ trì của Hòa thượng luôn là địa chỉ đỏ - an toàn khu của các bậc tiền bối cách mạng Việt Nam.
Thượng tọa, Thạc sỹ Thích Thanh Anh chia sẻ về Hòa thượng Thích Thông Hòa và bối cảnh cuộc họp của Hội nghị Thường vụ mở rộng.
Ngày nay, khi nhắc đến Đồng Kỵ, nhiều người nhớ hội làng, nhớ tới làng nghề mộc cổ truyền nổi tiếng. Nhưng với giới nghiên cứu lịch sử - tôn giáo, Đồng Kỵ còn là một địa danh ký ức: nơi Phật giáo nhập thế gặp đường lối cách mạng đúng thời điểm quyết định.
Trong ký ức cách mạng, hình ảnh sư cụ hiện lên không phải bằng những bài giảng cao siêu, mà bằng bữa cơm chay khói bếp, bóng áo nâu trầm lặng giữa đêm, và tấm lòng kiên định đặt đạo vào đời, đặt lòng từ bi vào vận mệnh Tổ quốc.
Ngày nay, nhắc đến Đồng Kỵ, nhiều người nhớ hội làng và nghề mộc truyền thống. Nhưng với lịch sử cách mạng, Đồng Kỵ còn là nơi Phật giáo nhập thế gặp đường lối cách mạng đúng thời khắc quyết định.
Từ căn phòng nhỏ cạnh nhà Tổ, từ tấm lòng một bậc chân tu yêu nước, một văn kiện mang tầm chiến lược đã ra đời, mở lối cho Cách mạng Tháng Tám. Chùa Đồng Kỵ vì thế không chỉ là di tích tôn giáo hay di sản văn hóa, mà còn là biểu tượng của sự gắn bó Đạo - Đời, là minh chứng sinh động cho sức mạnh nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong hành trình đồng hành cùng dân tộc.
Pháp Định