Bối cảnh hỗn loạn của chính quyền Sài Gòn và sự chuẩn bị tổng lực của quân ta
Trong những ngày cuối tháng 4/1975, dù Mỹ nỗ lực viện trợ khẩn cấp 330 triệu USD và bổ sung vũ khí, chính quyền Sài Gòn vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn. Sự thất thủ liên tiếp tại các tuyến phòng thủ từ xa mang tính biểu tượng như Phan Rang và vành đai Xuân Lộc đã tạo ra một làn sóng di tản hỗn loạn, làm tê liệt hoàn toàn ý chí chiến đấu của binh lính và sĩ quan địch. Tổng thống Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Văn Thiệu trong bối cảnh cục diện quân sự đã trở nên tuyệt vọng; mọi nỗ lực điều chỉnh nhân sự hay lời kêu gọi tử thủ đều trở nên vô nghĩa trước đà tan rã về mặt tổ chức lẫn tinh thần của quân đội Sài Gòn.
Ngược lại, về phía ta, giữa tháng 4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiến công mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh", nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn Miền Nam trước mùa mưa. Một sức mạnh tổng lực mang tính thời đại đã được chuẩn bị chu đáo để giáng đòn quyết định cuối cùng. Tất cả các lực lượng chiến lược được huy động cho chiến dịch này, gồm: Các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 (tổng cộng 15 Sư đoàn) cùng với 5 Trung đoàn, Lữ đoàn bộ binh; 4 Trung, Lữ đoàn tăng - thiết giáp, 6 Trung đoàn đặc công và các đơn vị hỏa lực kỹ thuật phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương, tổng cộng: 280.000 quân, 400 xe tăng - thiết giáp, 420 khẩu pháo đã hoàn tất việc áp sát nội thành Sài Gòn ở khoảng cách chiến lược dưới 50km.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, 4/1975)
Điểm nổi bật trong công tác chuẩn bị chính là hệ thống hậu cần và lượng người hùng hậu, bảo đảm thông suốt luồng vũ khí, khí tài và lương thực, tạo nền tảng vững chắc cho một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày nếu cần thiết. Đồng thời, mạng lưới cơ sở Cách mạng và quần chúng nội đô đã được kích hoạt ở mức cao nhất, sẵn sàng cho kịch bản nổi dậy trực diện nhằm làm tê liệt bộ máy hành chính địch từ bên trong ngay khi đại quân tiến vào.
Trong 11 ngày chuẩn bị nước rút cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến lược Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khai thác, vận chuyển được 24.000 tấn vũ khí, 25.000 tấn lương thực, thực phẩm, 1.000 tấn thuốc, 1.000 tấn xăng dầu; tổ chức 5 trạm trùng tu, 10 trạm sửa chữa pháo và xe tăng phục vụ cơ động cho chiến dịch. Đặc biệt, trong những ngày chuẩn bị sát nút chiến dịch, hậu cần Miền đã đưa 10.000 người từ tuyến sau lên tổ chức thành 8 tiểu đoàn cơ động và huy động gần 4.000 xe vận tải các loại, 656 thuyền máy, ca nô, 1.736 xe đạp thồ, 63.342 dân công hỏa tuyến, thành lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị, với trên 10.000 giường để phục vụ bộ đội. Chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, các cơ quan phân xưởng của Quân giới B.2 đã dồn hết khả năng nhân lực và trang thiết bị tập trung sản xuất hai loại vũ khí có nhu cầu lớn cho tác chiến lúc này là mìn định hướng và bộc phá phá rào.
Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, phòng quân giới Miền đã chỉ đạo các xưởng trực thuộc tổ chức một đợt sản xuất cao điểm 20 ngày từ ngày 05 đến 25/4/1975 sản xuất được 6.809 quả bộc phá phá rào và 3.621 quả mìn định hướng MĐH10. Từ ngày 20 đến ngày 25/4/1975, dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các Quân đoàn chủ lực 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 đã áp sát Sài Gòn - Gia Định trên năm hướng, sẵn sàng nổ súng mở màn cho trận quyết chiến chiến lược lịch sử - Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 1 vượt đường 16 tiến vào giải phóng Sài Gòn (Ảnh tư liệu Bảo tàng Binh đoàn Quyết thắng)
Kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng và cục diện trên sân khấu chính trị
Ngày 22/4/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã thông qua và phê duyệt kế hoạch tiến công đồng loạt trên năm hướng chủ đạo: Tây Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam và Tây - Tây Nam. Đây là bản kế hoạch thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam với mục tiêu chiến lược là đánh nhanh, đánh dứt điểm, thực hiện chia cắt và tiêu diệt lực lượng địch ngay tại vòng ngoài để ngăn chặn triệt để khả năng co cụm vào nội đô. Chiến thuật hoa sen nở được ưu tiên, tập trung chiếm lĩnh năm mục tiêu trọng yếu nhất: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát - những cơ quan cực kỳ quan trọng, quyết định sự tồn tại của chế độ Sài Gòn.
Song song với các diễn biến quân sự dồn dập, tình hình chính trị tại Sài Gòn diễn ra phức tạp với những nỗ lực ngoại giao cuối cùng nhằm trì hoãn sự sụp đổ hoàn toàn. Ngày 26/4, dưới sức ép nặng nề từ phía Mỹ và sự thất bại trên thực địa, Trần Văn Hương từ chức, nhường chỗ cho Dương Văn Minh - nhân vật được kỳ vọng có thể thực hiện một giải pháp thương lượng hòa hoãn với Chính phủ Cách mạng lâm thời. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Cách mạng đã tỉnh táo nhận diện đây chỉ là kịch bản nhằm kéo dài thời gian để quốc tế can thiệp. Trước yêu cầu lịch sử mang tính sống còn, quân ta đã hoàn tất tập kết 10 sư đoàn chủ lực vào ngày 24/4, củng cố quyết tâm giải phóng hoàn toàn Miền Nam bằng biện pháp quân sự trực diện, không chấp nhận bất cứ sự trì hoãn nào.
Đòn công kích phá tan hệ thống phòng thủ vòng ngoài và sự sụp đổ của bộ máy chỉ huy
Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, Chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu, đánh dấu bước ngoặt không thể đảo ngược của lịch sử dân tộc. Ta tập trung lực lượng đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, cắt đứt giao thông đường bộ, đường thủy xuống Đồng bằng Sông Cửu Long và ra biển, khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc, chế áp các trận địa pháo quan trọng, chia cắt không cho các sư đoàn chủ lực địch co cụm về vùng ven và nội đô, siết chặt vòng vây xung quanh Sài Gòn, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công đồng loạt vào các cơ quan đầu não địch.
Quân Giải phóng chuẩn bị lực lượng trước giờ tổng công kích vào Sài Gòn - Gia Định với tinh thần "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" (26/4/1975)
Trên tất cả các hướng, quân ta đồng loạt thực hiện các mũi thu hồi và chia cắt chiến lược: Hướng Đông và Đông Nam, Quân đoàn 4 đánh chiếm chi khu quân sự Trảng Bom; Quân đoàn 2 đánh chiếm chi khu quân sự Long Thành, Trường sĩ quan thiết giáp của địch ở Nước Trong..., phát triển về hướng Biên Hòa - Nhơn Trạch. Các đơn vị đặc công thọc sâu chiếm cầu trên sông Đồng Nai và cầu trên sông Sài Gòn. Sư đoàn 3 - Quân khu 5 đánh chiếm Bà Rịa ở phía Nam, phát triển theo hướng Vũng Tàu. Pháo binh chiến dịch khống chế, làm tê liệt sân bay Biên Hòa, buộc địch phải di tản về Tân Sơn Nhất...
Hướng Tây Nam, ta cắt đứt đường 4 từ cầu Bến Lức đến ngã ba Trung Lương và từ Cai Lậy đến An Hữu, ngăn chặn và thu hút các sư đoàn 7, 9, 22 của địch, tạo điều kiện cho các hướng khác hoạt động. Đoàn 232 sử dụng một sư đoàn chiếm đầu cầu An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ, đưa Sư đoàn 9 và các đơn vị binh khí kỹ thuật qua sông; các trung đoàn độc lập 24 và 88 tiến về phía Nam quận 8, tạo thế bao vây địch.
Hướng Bắc, Quân đoàn 1 diệt một số trận địa, cơ bản phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, làm chủ đoạn đường 16, đưa lực lượng triển khai thọc sâu cách Thủ Dầu Một 7km.
Hướng tiến công chủ yếu Tây Bắc, Quân đoàn 3 diệt 11/18 trận địa pháo, cắt đường 22 và đường 1, chặn các đơn vị thuộc Sư đoàn 25 của địch từ Tây Ninh co về Đồng Dù, bức hàng 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 50. Lực lượng đặc công và Trung đoàn Gia Định làm chủ tuyến vành đai Sài Gòn, tạo cửa mở qua các vật cản phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho binh đoàn chủ lực tiến công.
Phối hợp với hoạt động tiến công của bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang và Nhân dân các địa phương trên địa bàn chiến dịch, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng kịp thời nổi dậy khởi nghĩa, giành quyền làm chủ, khiến cho nội bộ chính quyền Sài Gòn lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
HUỲNH THIÊN - DUY LUÂN - THANH THỦY