Đoàn thể thao Việt Nam tại Lễ khai mạc SEA Games 33-2025. Ảnh: ĐOÀN TTVN
Chương trình không chỉ tạo động lực tăng trưởng cho thể thao thành tích cao mà còn góp phần giải quyết những “bài toán” tồn đọng đã kìm hãm sự phát triển bền vững suốt nhiều năm qua.
Nhìn lại hành trình TTVN tại các kỳ ASIAD, không khó để nhận ra sự thiếu ổn định đáng lo ngại. Tại ASIAD 2018 ở Indonesia, đoàn Việt Nam đạt đỉnh cao với 5 HCV. Nhưng đến ASIAD 2023 tại Hàng Châu (Trung Quốc), con số ấy tụt xuống còn 3 HCV, chỉ vừa kịp hoàn thành chỉ tiêu tối thiểu với các nội dung bắn súng, karate và cầu mây - những môn khá hẹp về phổ biến đại chúng, khó tăng số lượng huy chương trong tương lai.
Tính chung ở đấu trường ASIAD, từ năm 2002 đến nay, số HCV của Việt Nam dao động trong khoảng từ 3-5 mỗi kỳ. Không tăng, không giảm đáng kể. Vị trí trong bảng tổng sắp so với các quốc gia Đông Nam Á cũng gần như không thay đổi, khi Thái Lan, Indonesia, Malaysia vẫn ở phía trước. Ở đấu trường Olympic, từ tấm HCB của võ sĩ taekwondo Trần Hiếu Ngân năm 2000 đến kỳ tích HCV bắn súng của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh là 16 năm, xen giữa có HCB của lực sĩ cử tạ Hoàng Anh Tuấn năm 2008. Nhưng từ sau năm 2016 đến nay, đã gần một thập niên, chúng ta vẫn chưa có thêm bất kỳ huy chương nào.
Thực tế đang cảnh báo: việc tái lập các thành tích cũ đang ngày một khó hơn, khoảng thời gian chờ đợi giữa các thế hệ ngày một lâu hơn. Đó là thách thức lớn khi đặt trong các mục tiêu vào tốp 15 châu Á hay tốp 50 thế giới được đề ra trong Chương trình “Phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD, Olympic giai đoạn 2030-2045”.
Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trường 2 con số, tạo động lực cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Kinh tế tăng trưởng bền vững trong nhiều thập niên. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp nhiều lần. Hạ tầng đô thị thay đổi từng ngày. Chúng ta đang xây những sân vận động đủ tiêu chuẩn đăng cai World Cup, những công trình thi đấu hiện đại ngang tầm khu vực. Đời sống người dân, trong đó có những người làm thể thao đỉnh cao, được cải thiện rõ rệt. Trong bối cảnh như vậy, thành tích ở các đấu trường Olympic, ASIAD buộc phải có chuyển biến mạnh cả về lượng và chất, đi kèm là duy trì được sự tiến bộ qua từng kỳ đại hội.
Để làm được điều đó, TTVN phải chuyển dịch từ tư duy “chờ đợi nhân tài” sang tư duy “kiến tạo thành tích” bằng hệ thống. Sự ổn định về mặt thành tích không thể được xây dựng trên đôi chân của một vài cá nhân đặc biệt mà phải được bảo đảm bằng sức mạnh của công nghệ, của quy trình quản trị hiện đại và sự đầu tư có trọng điểm.
Đó là lý do chương trình đầu tư trọng điểm không chỉ đặt ra mục tiêu thành tích mà còn nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống tuyển chọn, đào tạo VĐV một cách bài bản; hoàn thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị huấn luyện; ứng dụng khoa học công nghệ, y học thể thao và quan trọng nhất là huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách.
Theo góc nhìn của nhiều chuyên gia, một khi đã có quy hoạch rõ ràng về các môn trọng điểm sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp, nhà tài trợ mạnh dạn đồng hành. Có thể kỳ vọng một mô hình hợp tác công - tư, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tạo hành lang pháp lý và đầu tư cho cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật, trong khi khu vực tư nhân tham gia tài trợ cho các giải đấu, chế độ đãi ngộ và quảng bá hình ảnh VĐV.
Sự ra đời của Chương trình “Phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD, Olympic giai đoạn 2030-2045” là quyết sách có tầm nhìn dài hạn, giải quyết căn cơ những điểm nghẽn về sự thiếu ổn định, sự lúng túng trong xã hội hóa và hiệu quả quản lý từ các liên đoàn. Thách thức phía trước còn rất lớn, đặc biệt là bài toán sử dụng nguồn lực sao cho hiệu quả. Nhưng đó là một áp lực đủ lớn để thúc đẩy ngành thể thao chuyển động thực sự, tạo ra đột phá đỉnh cao, viết tiếp những trang sử mới tại ASIAD và Olympic trong những thập niên tới.
YẾN PHƯƠNG