Chiêu giả ngơ đặc biệt của 'ông già đạp xe' nghiên cứu Nam bộ

Chiêu giả ngơ đặc biệt của 'ông già đạp xe' nghiên cứu Nam bộ
một giờ trướcBài gốc
Ngồi giữa căn nhà chật kín tượng cũ, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng chậm rãi kể chuyện ông Địa bị bỏ bên gốc cây, chuyện đứa trẻ nặn ông Phật bằng đất dưới mương nước.
Chia sẻ với Tri Thức - Znews, nhà nghiên cứu tự nhận mình là “Hòa thượng Thích Đủ Thứ” sau hơn 50 năm đạp xe khắp miền Nam nghiên cứu văn hóa dân gian. Ông còn nói về kỹ năng "giả ngơ đặc biệt" khi đi nghiên cứu và những năm tháng làm báo cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ. Đến nay, ông có gần 100 tác phẩm nghiên cứu và gần nhất là Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ gồm 7 tập - 12 quyển.
Tiếng ca giữa trời nước mênh mông
- Tại sao nhà ông có nhiều tượng ông Địa vậy?
- Tôi đi ăn trộm.
- Ông ăn trộm ở đâu? Xin cho chúng tôi đi theo!
- Thật ra là tôi đi lượm. Cái gì của tôi có là người ta bỏ, rồi mình lượm, bạn hiểu không? Hồi đó, tôi đi ra Lê Công Kiều là thích đồ cổ, nó toàn là cái thứ đắt tiền. Tôi mới nghĩ đi kiếm cái gì người ta không chơi thì mình chơi. Mình phải như là Chí Phèo với Thị Nở, cái gì người ta không đụng tới thì mình lượm.
Cái kiểu như tôi, giang hồ họ gọi là “Hòa thượng Thích Đủ Thứ”, cái gì tôi cũng thích và thích là thích một cách điên cuồng, thích rồi thì phải tìm hiểu kỹ. Cuộc đời này cái gì nó đã quý thì quý rồi nhưng cái gì không quý mà mình có đủ bộ thì sẽ thành quý. Đó là cái giác ngộ đầu tiên của tôi. Đủ bộ thì mình ăn.
Thế là tôi đi lượm tượng ông Địa, người ta bỏ ngoài gốc cây, vỉa hè, lượm mãi thì được 1 tủ 400 ông rồi viết cuốn sách Thần Đất - Ông Địa và Thần Tài.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng có thói quen sưu tầm những thứ người ta bỏ đi.
- Ngoài tượng ông Địa, ông còn nghiên cứu điều gì khác?
- Đôi khi tôi tự hào mình là người có nhiều phát kiến. Ông Địa là tôi phát kiến, Thần Tài, Nữ thần là tôi phát kiến… Phát kiến lớn nhất của tôi là tượng Mục đồng.
- Tượng Mục đồng là như thế nào?
- Ngày xưa ở miền Tây có cái chùa Mục đồng. Bọn trẻ con chăn trâu lấy đất sét dưới mương nắn thành tượng Phật, tượng thần. Tới mùa nắng, trời nóng quá thì tụi nhỏ vụt mấy bức tượng xuống mương, tắm cho tượng. Truyền thuyết kể rằng tượng nổi lềnh bềnh trên mặt nước chứ không chìm. Thấy vậy, người dân mang về thờ. Chùa gọi là chùa Mục đồng do bọn chăn trâu, chăn bò làm ra.
Lúc nghiên cứu tôi có nói chuyện với Hòa thượng Thích Thiện Pháp, ngày xưa tôi và ông từng đi làm cách mạng cùng nhau, ông cũng xác nhận chuyện đó có thật. Tôi hỏi bằng chứng ở đâu. Ông kêu tôi xuống Ba Tri - Bến Tre, chỗ khu Tiên Thủy có một ngôi chùa với hai câu đối chữ Nôm: Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích / Ông Trí tiên tu hậu hữu danh. Tức là: Khởi đầu là thằng Mục đồng nó tạo ra đầu tiên nay còn dấu tích; ông Trí là người đầu tiên tu ở chùa đó, giờ gọi là chùa Ông Trí. Tôi đi thêm ở Gò Công, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu… đi mãi thì viết được cuốn sách Mỹ thuật dân gian Nam bộ: Tượng mục đồng.
Một tác phẩm thực sự phải hội tụ ba yếu tố: nhất thời, cảm tính và có thật. Tác phẩm nào đạt được những điều đó thì gọi là “thuần khiết”.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng
Tôi còn dành tâm sức nghiên cứu về bộ Ông Táo hay còn gọi là "Ông đầu rau". Hồi nhỏ, mẹ tôi hay dặn ra ruộng lấy đất sét nắn tượng, phải nắn đủ bộ ba ông, riêng tượng ở giữa thì dùng ngón trỏ chọt một lỗ vào phần bụng. Tuy tên gọi hiện nay là Ông Táo, nhưng nhân vật này khởi nguyên là Bà Táo. Chọt lỗ như vậy chính là tạo phần lỗ rốn, phần cơ quan sinh đẻ cho bà.
Đó là tín ngưỡng cổ đại thời kỳ mẫu hệ, phụ nữ giữ vị trí chủ chốt và các thần linh đều mang giới tính nữ. Đến thời phụ hệ, hình tượng "bà" mới dần chuyển thành "ông". Có thể nói bộ Ông Táo là một trong những sản phẩm thiết yếu đầu tiên của Nam bộ, ra đời trước các vật dụng như nồi niêu, xoong chảo hay siêu ấm.
- Tại sao bức tượng của những đứa bé chăn trâu lại quý giá đến vậy?
- Bộ tượng Mục đồng thì xứ mình người ta thấy cũng lạ, hiếu kỳ thôi nhưng ở Australia, Singapore, Mỹ thì họ xem là cực kỳ quan trọng. Những người nghiên cứu mỹ thuật bên đó qua gặp tôi, họ chỉ nói về cuốn đó.
Tại sao? Khi làm tượng Phật, tượng thần, nếu làm như mấy ông họa sĩ học trường lớp ra thì tác phẩm đó thường bị thôi thúc theo một định hướng nào đó. Ý tưởng sáng tạo đã bị rập khuôn, không thể hoàn toàn tự do, không mang tính cá thể, không xuất phát từ tấm lòng, từ suy nghĩ, từ hiểu biết của chính tác giả đó.
Tượng Mục đồng thì đảm bảo được yêu cầu đó. Tụi mục đồng đâu biết ông Phật ra sao, cũng không đọc một câu kinh nào hết, chưa từng nghe ông hòa thượng, thượng tọa nào thuyết pháp. Ông Phật trong bụng chúng nó nghĩ sao thì nặn như vậy. Nhờ đó mà tượng có sự hồn nhiên.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng sinh năm 1952 tại Quảng Ngãi, là tác giả và đồng tác giả của nhiều đầu sách văn hóa dân gian.
Giống tiếng hát - hò - lý khi đi qua ruộng hay đi trên bến sông, bỗng nghe một tiếng ca cất lên giữa trời nước mênh mông, giữa ánh hoàng hôn hoặc bình minh chưa ló dạng. Đó là thứ trời cho. Người Trung Quốc thì gọi là “thiên lại”, là tiếng sáo của trời. Tác phẩm nghệ thuật cũng vậy, nhiều lúc nó được “mặc khải”. Tức là nghệ sĩ nào đó bỗng nhiên xuất thần, nhận được một ân điển của trời rồi quẹt nét cọ, lấy chút màu, vẽ được bức tranh để đời.
Một tác phẩm thực sự phải hội tụ ba yếu tố: nhất thời, cảm tính và có thật. Tác phẩm nào đạt được những điều đó thì gọi là “thuần khiết”. Còn những công trình nghiên cứu khoa học hoặc những tác phẩm được viết trong thời gian dài thì không còn nhất thời. Người làm thơ thì nhất thời, bỗng nhiên ý thơ nó đến như thần trợ. Còn ngồi rị mọ, suy ngẫm, đọc sách vở, tài liệu để hệ thống thì gọi là trường kỳ. Nó là lý trí và mang tính cộng đồng.
Đời báo chí, đời nghiên cứu, đời cách mạng
- Ở trên ông kể bản thân từng theo kháng chiến, ông tham gia từ khi nào?
- Hồi xưa tôi đi làm Việt Cộng nằm vùng. Tôi sinh ra tại cái “lò sinh sát” của Mỹ, vùng Mỹ Khê - Sơn Mỹ. Năm 1968-1969, Calley giết đến hơn 500 người. Hồi đó, tôi học trên thị xã về thấy cảnh đó. Người chết đầy cả một mương nước. Không thể tưởng tượng được, chỉ có nước mắt chảy ra.
Từ mười mấy tuổi thì tôi đã đi làm Việt Cộng. Tôi hay đi mua pin, thuốc tây, thuốc sốt rét cho chiến sĩ. Ngày đó thiếu nhất là Penicillin, mua cái đó khó lắm. Tôi phải giấu trong cái ống sắt dưới yên xe đạp mới qua được trạm gác. Hễ bị bắt là giặc đánh, đánh gãy răng, chích điện.
Đi tìm hiểu, phỏng vấn là mình phải giả ngơ, mà phải “ngơ đặc biệt” thì người ta mới xổ hết lòng dạ.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng
Năm 1971, tôi vào Sài Gòn để theo học ban báo chí ở Đại học Vạn Hạnh rồi tham gia phụ trách tờ Thanh Niên. Đó là tiếng nói của lực lượng liên kết các tổ chức thanh niên miền Nam Việt Nam.
Cấp trên kêu viết bài chống Mỹ thì mình viết, viết đánh đuổi đế quốc Mỹ. Sau đó tôi còn lập nhóm xuất bản Hướng Dương. Tập thơ đầu tiên là Tình biển nghĩa sông của nhà thơ Hoàng Thái Châu rồi tập thơ Những cánh chim bay của nhà thơ Phan Viên Hoài. Sau đó, chúng tôi ra tập sách Những trái tim hồng.
- Học báo chí nhưng đến nay ông là nhà khoa học với gần 100 nghiên cứu về văn hóa dân gian. Sao ông làm được điều đó?
- Học nghề báo giúp tôi có kỹ năng phỏng vấn. Giống hồi đi nghiên cứu ở miền Tây, tôi hỏi một người phụ nữ về món cá nấu xoài. Bà ấy kể tỉ mỉ từ mức độ xoài chín tới cách nấu ra sao. Thực ra món đó tôi ăn mòn răng khắp xứ nhưng mình phải dùng cái lối “giả ngơ”. Đi phỏng vấn là mình phải giả ngơ, mà phải “ngơ đặc biệt” thì người ta mới xổ hết lòng dạ. Đi sưu tầm văn hóa mà mấy ông tới đó toàn đi dạy người ta chứ đâu có phỏng vấn gì. Người ta nói gì ra cũng dạy đời, đó là cái hư trong nghề báo chí.
Bạn muốn đi nghiên cứu các câu hò, điệu lý thì không nên vào hỏi vồ vập: “Hồi xưa bà hò nổi tiếng lắm, bà hò cho tôi nghe mấy câu”. Làm vậy người ta không nhớ được. Đi phỏng vấn là phải hỏi “vòng tròn”, phải gợi cho người ta sống lại cái thời hoàng kim của họ. Phải hỏi thăm từ quê quán, xóm giềng để người ta nhớ lại hồi mười lăm, mười sáu tuổi. Phải hiểu 'background' (nền tảng) toàn bộ hoạt động canh tác, mùa vụ của địa phương. Khi người ta đã nhớ thì họ có thể kể từ sáng tới chiều, thành “nonstop story” (câu chuyện không dứt). Mình phải kiên nhẫn, kể cả khi nhân vật hò những câu có phần thô tục, văn học dân gian nó phải thật tình như vậy.
Bất cứ ai, kể cả người khốn nạn nhất, cũng có thời hoàng kim của mình. Cứ lân la hỏi đúng chỗ đó thì người ta kể không ngừng được. Từ đó mình mới rút ra cái bối cảnh lịch sử, xã hội, hoạt động nông nghiệp, buôn bán... mình “ăn” hết cái “background” đó. Khi viết bài hay viết sách, tôi nắm chắc nền tảng này thì không sợ sai. Ví dụ, dựa vào chuyện một người phụ nữ đi cấy năm 1945, mình có thể xác định niên đại, năm sinh và cái “đát” (date - thời điểm) của tác phẩm. Câu hò phải kết nối được với lịch sử thì mới có giá trị.
Tác phẩm mới nhất của nhà nghiên cứu là Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ (NXB Tổng hợp TP.HCM), gồm 7 tập - 12 quyển.
- Ngày xưa ông đi nghiên cứu như thế nào?
- Tôi đi xe đạp. Đi xa thì mình gửi xe đạp theo xe đò, tới nơi thì dắt xuống đạp đi khắp nơi. Còn như vùng Long An, Tây Ninh thì cứ xe đạp mà đi, tôi đạp tới nơi. Chiếc xe này lâu rồi. Hồi đó tôi đi cái xe cũ bị hư, đứa cháu nó làm xưởng tân trang xe, nó ngồi rị mọ mua đồ về ráp cho tôi.
- Ngày xưa có “ông già đi bộ” là ông Sơn Nam, giờ thì có “ông già đi xe đạp” Huỳnh Ngọc Trảng!
- Hồi tôi đi sưu tầm tư liệu cho cuốn Hát Sắc bùa Phú Lễ, tôi đi “dữ” lắm. Tôi xuống tận nơi gặp mấy ông thầy, rồi đi ghi âm. Toàn bộ phần ký âm trong sách là do một anh nhạc sĩ học ở Nhạc viện Hà Nội thực hiện.
Hồi đó còn có anh chụp hình đi theo tôi, anh Nguyễn Đạo Phúc, anh này có chiếc xe Dream 67 chạy “ngon” lắm, chở tôi đi khắp nơi. Cứ thứ bảy, Chủ nhật là chúng tôi xách xe chạy xuống gặp nghệ nhân, ngồi nói chuyện tới tối mới về.
Làm ròng rã suốt ba tháng mới xong một cuốn sách hoàn chỉnh từ miêu tả nghệ nhân, hình ảnh cho tới phần ký âm. Thời nay khó mà làm được một cuốn bài bản như vậy. Ông Huỳnh Ngọc Trảng này có tới gần 100 cuốn sách như vậy, đừng có tưởng tôi là “cùi bắp” nghen!
Cảm ơn ông đã dành thời gian!
Phương Lâm - Đức An
Nguồn Znews : https://znews.vn/chieu-gia-ngo-dac-biet-cua-ong-gia-dap-xe-nghien-cuu-nam-bo-post1626019.html