Khuyến học bằng vật chất là hoạt động dùng vật chất tác động đến việc học để tạo nhân tài cho đất nước
Hoạt động này được cả hai triều Lý - Trần coi trọng, xem đây là hoạt động thường xuyên của mỗi vương triều.
Ở triều Lý, sau gần 70 năm định đô ở Thăng Long, mọi công việc triều chính dường như đã ổn định, vào năm 1075, vua Lý Nhân Tông (1072-1128) cho mở khoa thi Nho giáo đầu tiên ở nước ta.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Xuống chiếu tuyển minh kinh bác học và Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học". Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong tư tưởng của triều Lý, do triều đình nhận thấy vai trò to lớn của Nho giáo trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước.
Để khuyến khích sĩ tử trong nước học tập, chắc chắn ở giai đoạn ban đầu, khi triều Lý mở khoa thi đầu tiên cho bản triều đã ban hành chính sách khuyến học bằng vật chất.
Tuy nhiên, do thời gian lâu xa, tư liệu đề cập đến khuyến học bằng vật chất ở triều Lý còn lại không nhiều. Hiện ta chỉ có thể biết số người đỗ Nho học ở thời kỳ này quá ít, chỉ vỏn vẹn 11 vị, ghi tên trong sách Đăng khoa lục và trong chính sử. Họ đều được bổ chức vụ, giữ trọng trách trong triều.
Tượng Trạng nguyên Lê Văn Thịnh tay cầm bút, nghiên trong Đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh tại Bắc Ninh.
Trong số này đáng chú ý có Lê Văn Thịnh (người làng Đông Cứu huyện Gia Định, nay là thôn Bảo Tháp xã Đông Cứu tỉnh Bắc Ninh), đỗ đầu khoa minh kinh bác học năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075). Sau khi đỗ, ông từng giữ chức Thị lang Bộ Binh, dẫn đầu sứ bộ nước ta đến trại Vĩnh Bình trên đất nhà Tống (Trung Quốc) cùng sứ giả Trung Quốc thương lượng về việc biên giới vùng Khâm Châu, là nơi còn tranh chấp giữa nước với Trung Quốc.
Khi về nước ông được thăng chức Thái sư. Lúc đầu ông được bổ chức Nội cấp sự, cuối năm 1076 được thăng Thị lang ở Bộ Binh. Đến năm 1084, lại dẫn đầu sứ bộ Đại Việt đến trại Vĩnh Bình lần thứ hai để tiếp tục thương lượng việc biên giới vùng này với Trung Quốc.
Khi về nước ông được thăng chức Thái sư (Tể tướng). Ông giữ chức vụ này trong 12 năm, đất nước thanh bình, quốc gia vô sự. Như vậy có thể nói, những người đỗ đạt ở triều Lý được triều đình ưu ái, họ vừa được giữ chức vụ cao, vừa được hưởng bổng lộc lớn.
Các bức họa ngày nay minh họa về sự học thời Lý - Trần.
Đến thời Trần, do triều đình Đại Việt đã nhận thấy vai trò quan trọng của tầng lớp trí thức được tuyển dụng bằng con đường khoa cử Nho giáo nên việc khuyến học bằng vật chất được chú trọng hơn so với thời Lý.
Nếu ở triều Lý, trung bình cứ 15 năm đến 20 năm mới mở một khoa thi, lấy đỗ 11 vị, thì ở triều Trần, trung bình chỉ 10 năm lại mở một khoa thi, lấy đỗ 51 vị. Tức thời gian tổ chức các khoa thi ở triều Trần được rút xuống, trong khi số người đỗ lại tăng lên.
Đáng chú ý trong số 51 vị đỗ ở triều Trần, có đến 23 vị do Đăng khoa lục ghi lại được bổ giữ các chức vụ khác nhau. Chẳng hạn như Trương Hanh (người xã Mạnh Tân huyện Trường Tân, nay thuộc xã Gia Lộc, thành phố Hải Phòng) đỗ Thái học sinh năm 1232, giữ chức Thượng thư; Trần Chu Phổ (người xã Đan Nhiễm huyện Tế Giang, nay là thôn Đan Nhiễm xã Văn Giang tỉnh Hưng Yên) đỗ Tiến sĩ năm 1232, giữ chức Quốc sử viện; Nguyễn Quan Quang (người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, nay là thôn Tam Sơn phường Tam Sơn tỉnh Bắc Ninh) đỗ Trạng nguyên năm 1246, giữ chức Bộc xạ; Lê Văn Hưu (người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn, nay là thôn Phủ Lý xã Thiệu Trung tỉnh Thanh Hóa) đỗ Bảng nhãn năm 1247, giữ chức Thượng thư Bộ Binh, tước Nhân Uyên hầu...
Nhận xét về vấn đề này, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: " Bấy giờ [triều Trần] quan trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hư, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát... Trương Hán Siêu, Lê Cự Nhân nối nhau vào triều, nhân tài nở rộ".
Đi đôi với trao chức vụ làm quan, việc khuyến khích bằng vật chất mà chủ yếu là lương bổng cũng được chú trọng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép vào tháng giêng năm Bính Thân (1236), Trần Thái Tông ban sắc "định lệ cấp lương bổng cho các quan văn võ trong ngoài và các quan ở cung điện, lăng, miếu, chia tiền tuế, ban cấp theo thứ bậc".
Đến tháng 9 năm Tân Sửu (1241), Trần Thái Tông "xuống chiếu cho các ty xét án được lấy tiền bình bạc". Tiền bình bạc ở đây là tiền công của việc xét án kiện. Sau đến tháng 10 năm Giáp Thìn (1244), vẫn dưới triều vua Trần Thái Tông, triều đình quy định lương bổng cho các quan làm việc trong ngoài và các quan túc vệ". Song không rõ số lương bổng cấp cho quan lại lần này cũng như trước đó vào năm 1236 là bao nhiêu.
Có lẽ chính điều đó khiến sử gia Phan Huy Chú (1782-1840) đưa ra nhận xét: " Lệ bổng lộc buổi đầu nhà Trần cấp bậc chưa từng nói theo thứ lớp ban cấp, quy chế cũng không khảo được. Có lẽ lấy ở thuế công, định lệ làm thường, cũng như ngụ lộc gần đây chăng?".
Quốc Tử Giám - trường học đầu tiên của nước ta.
Tiêu biểu của khuyến học bằng vật chất ở triều Trần là việc đặt học điền. Đặt học điền là đặt ruộng thu hoa lợi dùng vào mục đích học tập. Hình thức này xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử là ở Trung Hoa thời cổ đại.
Sách Từ Hải cho biết: "Thời xưa học cung đặt ruộng để cung ứng tế tự trong việc học và để làm kho lương cho thầy giáo và học sinh, hoặc chu cấp cho Nho sĩ nghèo. Đến thời Trần Nhân Tông nhà Tống (1022-1063), triều đình bắt đầu sai Quốc Tử Giám và Duyện Châu, mỗi nơi đều đặt học điền. Dưới thời Thần Tông nhà Tống (1048-1085), khắp nơi trên đất nước đã phổ cập đặt học điền".
Việc đặt học điền ở nước ta chịu ảnh hưởng từ việc đặt học điền ở Trung Quốc và ra đời muộn hơn so với Trung Quốc, bắt đầu xuất hiện từ cuối thời Trần, vào năm 1397.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Đời xưa, nước có nhà học, đảng có nhà tự, toại có nhà tường để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý trẫm rất chuộng như vậy. Nay quy chế ở kinh đô đã đủ mà châu huyện thì còn thiếu, làm thế nào rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau: phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình (một phần để cúng ngày mùng 1, một phần cho nhà học, một phần cho đèn sách).
Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc".
Như vậy, đến cuối triều Trần, triều đình đã có quy chế học tập đầy đủ ở trường Quốc Tử Giám Thăng Long, riêng quy chế học tập tại các phủ châu thì chưa được xác lập. Đây là lý do để triều Trần tiếp tục hoàn thiện quy chế học tập tại các phủ châu bằng cách ban hành việc đặt học điền.
Qua quy chế này cho thấy, việc khuyến học bằng vật chất thể hiện ở đặt học điền là cách làm phù hợp, bởi nước ta là nước nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm kế sinh nhai, trong khi ruộng đất là nguồn tài nguyên có sẵn. Riêng quy chế học tập tại các phủ châu còn thiếu nên triều đình ban hành việc đặt ruộng để thu hoa lợi chi dùng cho quan lại trông coi việc học cũng như dùng làm nguồn lương thực chu cấp cho học sinh học tập cũng là phù hợp.
Việc đặt học điền ở đây là căn cứ theo phủ châu lớn hay nhỏ mà đặt ruộng theo số lượng khác nhau, không mang tính chất đồng đều, phù hợp cho việc quản lý học điền tại các phủ châu ở nước ta thời đó. Việc đặt học điền như vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập đương thời mà còn mở ra tiền lệ cho việc đặt học điền ở các triều đại về sau, cũng như việc đặt học điền ở các làng xã, dòng họ và Hội Tư văn, phục vụ cho việc khuyến học ở nước ta thời quân chủ được toàn diện.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.
TS Nguyễn Hữu Mùi*