Chính sử ghi chép gì về thành nhà Hồ?

Chính sử ghi chép gì về thành nhà Hồ?
một ngày trướcBài gốc
Thành nhà Hồ còn gọi là thành An Tôn, hay là thành Tây Nhai, Tây Đô, ở địa phận huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành được xây dựng dưới triều Trần vào năm Đinh Sửu (1397) do quyền thần Hồ Quý Ly chỉ huy. Tháng 3 năm Canh Thìn (1400), nhà Hồ được thành lập và Tây Đô trở thành kinh đô của vương triều mới.
Thành Nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 27/6/2011 nhờ giá trị kiến trúc đá độc đáo và vai trò là minh chứng giao lưu văn hóa, kỹ thuật xây dựng thời kỳ nhà Hồ.
Được đắp rất nhanh, trong thời gian 3 tháng
Theo chính sử Đại Việt sử ký toàn thư, vị trí của thành nhà Hồ được Quý Ly chọn đắp ở địa phận động An Tôn, phủ Thanh Hóa. Thành được đắp rất nhanh, trong thời gian 3 tháng là hoàn thành.
Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 8, mặt khắc 28 khắc: Năm Đinh Sửu (1397), mùa xuân, tháng giêng, sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép là Mẫn) đi xem đất và đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập miếu xã, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó. Tháng 3 thì công việc hoàn tất.
Khi đắp thành An Tôn thì triều đình cũng bàn bạc dâng lời can ngăn vì cho rằng An Tôn đất chật hẹp, không hợp với thời trị. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi.
Từ xưa, các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất làm nơi sâu gốc bền rễ. Hãy nên noi theo việc trước: khi ấy quân Nguyên bị giết, giặc Chiêm phải nộp đầu. Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nước nhà. An Tôn đất đai chật hẹp, hẻo lánh, ở nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị. Cho dù dựa vào thế hiểm trở thì đời xưa đã có câu “cốt ở đức chứ không cốt ở hiểm”. Nhưng Hồ Quý Ly không nghe.
Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 8, mặt khắc 28 ghi chép về việc Quý Ly sai Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất và đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
Thành nhà Hồ được đắp với mỗi mặt dài 120 trượng, cao 1 trượng 2 thước. Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại chi tiết thành nhà Hồ về diện tích và vật liệu đắp thành như sau: Thành nhà Hồ ở xã An Tôn huyện Vĩnh Lộc, còn gọi là thành Tây Nhai. Thời Trần Thuận Đế, Hồ Quý Ly sai người đến đó đắp thành, đào hào, lập miếu xã, mở đường phố, gọi là thành Tây Đô.
Thành vuông mà rộng hơn 200 mẫu. Cửa Nam của thành xây bằng đá ba tầng, như cửa Chu Tước ở thành Thăng Long. Ba cửa Đông, Tây, Bắc xây bằng đá, nền đều đắp bằng đá xanh. Các đường thông với thành đều lát đá hoa văn nên gọi là Hoa Nhai (đường hoa).
Ngoài thành có hào, tả hữu có đá núi, phía trước là sông Mã, sông Bảo. Bao quanh thành lại đắp đất làm la thành. Phía tả từ tổng Cổ Biện qua các xã Bỉnh Bút và Cổ Điệp theo sông Bảo chạy về phía Nam đến Đốn Sơn (núi Đốn). Phía hữu từ tổng Quan Hoàng huyện Cẩm Thủy men theo sông Mã chạy về Đông thẳng đến núi An Tôn mấy vạn trượng.
Mộc bản và bản dập sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 16, mặt khắc 45 ghi chép về thành nhà Hồ. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Thành nhiều lần bị lụt, sụt lở
Thành nhà Hồ sau một thời gian xây xong được củng cố thêm cho vững chắc, tạo thành hệ thống phòng thủ kiên cố. Năm Kỷ Mão (1399), Hồ Quý Ly sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía tây thành, phía nam từ Đốn Sơn, phía bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến Lỗi Giang, vây quanh làm tòa thành lớn bọc phía ngoài. Dân chúng ai lấy trộm măng thì bị xử tử.
Năm Tân Tỵ (1401), Hồ Hán Thương cho sửa đắp thành Tây Đô. Trước đây, bên ngoài thành tại kinh đô mới, Quý Ly cho dân trồng tre gai làm như la thành ở ngoài và bắc cầu cống, đặt hàng quán, đào khe cừ để tiện đi lại. Thân thành đều xây bằng đá, sau lại bị đổ. Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để sửa đắp lại.
Thành nhà Hồ dù được Hồ Quý Ly cho đắp vững chãi nhưng cũng bị hư hại do thiên tai và thời gian. Hơn nữa, bên tả bên hữu của thành đều sát với núi đá, lại có hai con sông Lương và sông Mã hợp lưu ở đằng trước nên thành nhiều lần bị lụt, sụt lở.
Thành nhà Hồ được xây dựng trong thời gian Hồ Quý Ly khắc phục cuộc khủng hoảng của đất nước cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Tuy thời gian xây thành chỉ có 3 tháng nhưng nó tồn tại đến nay đã gần 630 năm, một số đoạn của tòa thành còn lại tương đối nguyên vẹn. Nó là minh chứng, là dấu ấn của một giai đoạn lịch sử, một triều đại.
Minh Châu - Nhật Phương
Nguồn Znews : https://znews.vn/chinh-su-ghi-chep-gi-ve-thanh-nha-ho-post1617260.html