Ngập lụt tại một số khu vực ở Hà Nội sau trận mưa tháng 9/2025. (Ảnh: BÍCH LIÊN)
Thực tiễn đó đòi hỏi giải pháp tổng thể, trong đó phát triển hạ tầng xanh, dành không gian cho nước giữ vai trò then chốt.
Chưa bao giờ bài toán ngập lụt đô thị lại trở nên cấp bách như hiện nay. Năm 2025, chưa đầy một tháng, ba cơn bão liên tiếp gây mưa lớn kỷ lục tại nhiều địa phương phía bắc, trong đó Hà Nội ghi nhận lượng mưa từ 120 mm đến hơn 600 mm trong hai ngày khiến nhiều tuyến phố trung tâm ngập sâu trên 1m, giao thông tê liệt, sinh hoạt người dân đảo lộn. Thực tế này cho thấy những hạn chế của hệ thống thoát nước đô thị vốn đã quá tải ngày càng chịu thêm áp lực do thời tiết thất thường.
Không chỉ Hà Nội, ngập lụt nghiêm trọng còn xảy ra tại Huế, Đà Nẵng-Hội An và nhiều đô thị khác, khi lũ trên các sông dâng cao, nhiều khu dân cư bị cô lập, hoạt động kinh tế, du lịch bị đình trệ. Tại các đô thị phía nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long, triều cườngvà mực nước biển dâng khiến tình trạng ngập úng diễn ra thường xuyên, thậm chí ngay cả khi không có mưa.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế xây dựng và Đô thị, cả nước hiện có khoảng 900 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đã vượt 44% và dự kiến đạt trên 50% vào năm 2030. Tuy nhiên, quá trình bê-tông hóa, san lấp ao hồ và thu hẹp kênh rạch đã làm suy giảm nhanh không gian thoát nước tự nhiên, khiến ngập lụt ngày càng gia tăng, gây ách tắc giao thông, đảo lộn sinh hoạt và thiệt hại kinh tế ước tính 1%-1,5% GDP đô thị mỗi năm, đồng thời đe dọa sức khỏe cộng đồng và môi trường sống.
Nguyên nhân ngập lụt tại các đô thị hiện nay là do tốc độ đô thị hóa quá nhanh đã phá vỡ quy hoạch hạ tầng, vượt quá năng lực tiêu thoát nước, trong khi công tác quản lý đô thị còn nhiều bất cập. Việc thực thi pháp luật thiếu đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn chế khiến nhiều dự án thoát nước, chống ngập chậm triển khai hoặc chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Cùng với đó, tình trạng không tuân thủ cao độ nền, san lấp ao hồ, kênh rạch làm suy giảm khả năng trữ và thoát nước tự nhiên; hệ thống thoát nước giữa các khu vực thiếu liên kết.
Ở nhiều nơi, tiêu thoát nước đô thị còn phụ thuộc vào công trình thủy lợi nông nghiệp đã quá tải, trong khi thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả. Công tác đánh giá tác động môi trường chưa chặt chẽ cùng việc thiếu dữ liệu đồng bộ về hệ thống thoát nước và xử lý nước thải càng làm gia tăng nguy cơ úng ngập. Đáng chú ý, nhiều hệ thống thoát nước mưa vẫn được thiết kế dựa trên dữ liệu khí tượng cũ, chưa cập nhật tác động của biến đổi khí hậu và mưa cực đoan.
Tiến sĩ, kiến trúc sư Lê Thị Bích Thuận, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng cho rằng: Mạng lưới cống bê-tông không thể “một mình” tiêu thoát toàn bộ nước mưa trong thời gian ngắn, nhất là khi bề mặt đô thị ngày càng bê-tông hóa, mưa lớn cường độ cao xuất hiện thường xuyên hơn và hệ thống cống đã xuống cấp. Hạ tầng như cống ngầm, trạm bơm vẫn cần thiết, nhưng không đủ để giải quyết bài toán ngập lụt và phục hồi môi trường. Do đó, chỉ khi kết hợp hài hòa với hạ tầng xanh gồm cây xanh, hồ điều hòa, bề mặt thấm nước, mương sinh học, đô thị mới hình thành hệ thống hạ tầng có khả năng vừa điều tiết nước, vừa phục hồi các chức năng tự nhiên. Sự chuyển đổi không nằm ở việc bổ sung thêm công trình, mà ở việc thay đổi tư duy từ “chống ngập” sang “thích ứng”, từ “thoát nước” sang “giữ nước”, từ chi phí ngắn hạn sang đầu tư cho tương lai bền vững.
Trong cấu trúc đó, hạ tầng xanh được hiểu là mạng lưới liên kết các không gian xanh và mặt nước tự nhiên hoặc được thiết kế như hồ điều hòa, công viên mưa, vườn mưa, mái xanh, các dòng sông được phục hồi. Hệ thống này giúp phân tán dòng chảy, tăng khả năng thấm và trữ nước, giảm áp lực cho cống ngầm, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường và cảnh quan đô thị.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh, giảm ngập úng không chỉ là bài toán hạ tầng kỹ thuật mà còn là thước đo cho trình độ quản trị, mức độ văn minh, xanh và đáng sống của đô thị. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo hướng mở rộng, nâng cao năng lực tiêu thoát nước, các giải pháp sẽ mang tính tình thế, khó xử lý căn cơ vấn đề. Dẫn chứng từ thực tiễn Hà Nội, Thạc sĩ Trần Quốc Thái và Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi, Nhóm chuyên môn Quy hoạch, Trường đại học Xây dựng Hà Nội cho biết, trong trận mưa lớn ngày 30/9/2025, dù Trạm bơm Yên Sở đã vận hành toàn bộ 20/20 tổ máy với công suất tối đa, tình trạng ngập vẫn không được cải thiện do nước không còn không gian để thoát. Thực tế này cho thấy, bài toán ngập úng không thể chỉ trông chờ vào năng lực bơm, mà cần phải có biện pháp tổng thể.
Vì vậy, cần xác định lại mối quan hệ ứng xử với nước, không thể tiếp tục tư duy “cưỡng chế” dòng chảy hay tìm mọi cách để bơm nước đi thật nhanh. Thành phố cần chuyển sang tư duy “sống chung và dành không gian cho nước”. Điều này đồng nghĩa với việc chấp nhận dành lại một phần quỹ đất đô thị quý giá để khôi phục ao, hồ, vùng trũng, hành lang thấm nước, phục vụ các dòng chảy, biến đô thị thành một thực thể có khả năng “thấm” và “chảy” cùng nước, làm cho Hà Nội tìm lại sự cân bằng bền vững giữa phát triển đô thị hiện đại và đặc tính sông nước vốn có.
Ngập lụt đô thị tại các thành phố lớn là hệ quả của nhiều nguyên nhân mang tính dài hạn. Từ kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia cũng đề xuất cần sớm nghiên cứu, áp dụng cơ chế tín chỉ và thu phí nước mưa tại đô thị, bởi mỗi công trình xây dựng đều làm giảm khả năng thấm nước tự nhiên, gia tăng áp lực cho hệ thống thoát nước. Nguồn thu này cần được tái đầu tư cho hạ tầng thoát nước. Về lâu dài, chống ngập bền vững đòi hỏi một chiến lược tổng thể, khôi phục mối quan hệ hài hòa giữa đô thị và hệ sinh thái nước, kết hợp công nghệ và quản trị hiện đại giúp đô thị thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu ngày càng gia tang.
BÍCH LIÊN