Chia sẻ nguồn tin với PV Gia đình Việt Nam, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết bệnh nhân 53 tuổi (quê Lào Cai) nhập viện ngày 13/3/2026 trong tình trạng mệt mỏi kéo dài, ăn uống kém, sụt cân. Trước đó, khi kiểm tra tại bệnh viện địa phương, ông bất ngờ được phát hiện có khối u gan 61mm.
Khai thác bệnh sử cho thấy, cách đây khoảng 20 năm, bệnh nhân từng được chẩn đoán viêm gan nhưng chỉ uống thuốc nam trong thời gian ngắn rồi bỏ dở, không tái khám. Không có triệu chứng rõ ràng, ông tin rằng bệnh đã tự khỏi.
Trong suốt thời gian dài, bệnh nhân vẫn duy trì thói quen uống rượu bia đều đặn (khoảng 200 ml mỗi ngày), đồng thời mắc tăng huyết áp và đái tháo đường hơn 10 năm.
Khoảng 3 tháng gần đây, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện mệt mỏi, ăn uống kém, sụt khoảng 3 kg nhưng không đi khám. Chỉ đến khi kiểm tra gần đây mới phát hiện đồng thời viêm gan virus C và khối u gan ác tính.
Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC)
BSCKI. Phạm Diệu Trang, khoa Viêm Gan cho biết, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mệt mỏi, ăn kém, da sạm, không phù, huyết động ổn định, gan lách không sờ thấy. Đặc biệt, chỉ số PIVKA-II tăng rất cao lên tới 2909 (bình thường <40) – đây là dấu ấn gợi ý mạnh đến ung thư biểu mô tế bào gan.
Kết quả chụp CT Scanner ổ bụng ghi nhận khối u gan kích thước khoảng 61x55 mm, có đặc điểm ngấm thuốc, hướng nhiều đến tổn thương ác tính. Đồng thời xuất hiện hạch vùng rốn gan – đầu tụy, nghi ngờ di căn tại chỗ. Bệnh nhân được chẩn đoán theo dõi ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) trên nền viêm gan virus C mạn, kèm tiền sử uống rượu kéo dài, tăng huyết áp và đái tháo đường.
BS Trang nhấn mạnh, đây là trường hợp điển hình cho diễn biến âm thầm của viêm gan virus C. Người bệnh có thể không có triệu chứng trong nhiều năm, nhưng tổn thương gan vẫn tiến triển, từ viêm gan mạn, xơ gan đến ung thư gan nếu không được phát hiện và điều trị.
Hiện bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn với khối u lớn và có dấu hiệu di căn, khiến quá trình điều trị trở nên phức tạp. Ngày 19/3/2026, bệnh nhân đã được chuyển sang Trung tâm phẫu thuật gan mật – tiêu hóa để tiếp tục đánh giá và điều trị chuyên sâu.
Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị tại bệnh viện (Ảnh: BVCC)
Cũng theo BS Trang, với sự phát triển của y học hiện nay, viêm gan virus C hoàn toàn có thể điều trị khỏi với tỷ lệ trên 95% nếu được phát hiện sớm, bằng các thuốc kháng virus đường uống, ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi bệnh đã tiến triển đến ung thư gan, việc điều trị sẽ cần các can thiệp chuyên sâu như phẫu thuật, nút mạch gan, hóa trị và theo dõi sát với tiên lượng khó khăn hơn nhiều.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư gan cao. Ước tính có khoảng 8 triệu người nhiễm viêm gan virus B, C, trong đó tới 90% người nhiễm viêm gan C không biết mình mang bệnh.
Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 26.500 ca ung thư gan mới, chiếm 14,5% tổng số ca ung thư. Đáng chú ý, khoảng 5–25% bệnh nhân viêm gan C mạn có thể tiến triển thành xơ gan sau 10–20 năm, và trong số đó, mỗi năm có 1–4% phát triển thành ung thư gan.
Do đó, BS Trang khuyến cáo, viêm gan virus B và C thường diễn tiến âm thầm nên người dân cần chủ động tầm soát. Người bình thường nên kiểm tra định kỳ ít nhất 1 lần/năm, nhóm nguy cơ cao cần tầm soát 6 tháng/lần. Đặc biệt, người đã mắc viêm gan virus C có chỉ định điều trị cần điều trị ngay bằng thuốc theo ý kiến của bác sỹ chuyên khoa, không tự ý dùng thuốc nam hay trì hoãn điều trị.
Kim Ngân