Luật sư Phạm Ngọc Thanh (ngồi bên trái) tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại phiên tòa. Ảnh: Thái An
Chủ tịch UBND xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18-5, thay thế toàn bộ Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Nghị định mới đã có những thay đổi đáng chú ý về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Nghị định quy định xử phạt trong các lĩnh vực gồm: bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong đó, lĩnh vực bổ trợ tư pháp bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; chứng thực; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại.
Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50 triệu đồng, đối với tổ chức gấp 2 lần so với mức phạt tiền của cá nhân.
Nghị định mới này có những thay đổi đáng chú ý về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Điều 84, Nghị định 109/2026/NĐ-CP nêu rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã. Cụ thể, theo quy định tại Điều 84 của Nghị định, Chủ tịch UBND cấp xã được quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 25 triệu đồng đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp; đồng thời có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Điểm đáng chú ý, Chủ tịch UBND cấp xã đã được trao quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, trong đó bao gồm cả chứng chỉ hành nghề luật sư. Quy định này cho thấy xu hướng tăng cường tính chủ động, kịp thời trong xử lý vi phạm ngay từ cấp cơ sở.
Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 109/2026/NĐ-CP thì ngoài hình thức xử phạt hành chính, thì luật sư vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn. Như vậy, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền được áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng có thời hạn chứng chỉ hành nghề luật sư.
Khoản 2 Điều 2, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định, xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, khoản 1 Điều 84, Nghị định 109/NĐ-CP quy định, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt như: cảnh cáo; phạt tiền đến 25 triệu; tịch thu tang vật; đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội đánh giá, các quy định trên cho thấy, một chủ thể được coi là có thẩm quyền xử phạt phải đồng thời có khả năng áp dụng các hình thức xử phạt mà pháp luật cho phép. Thẩm quyền đã được quy định một các cụ thể, bao gồm cả hình thức xử phạt hành chính, xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP, việc áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam trong thời hạnh từ 1 tháng đến 3 tháng chỉ đối với một số hành vi vi phạm nhất định của luật sư. Những hành vi này nằm trong nhóm mà Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt.
Như vậy, khi người có thẩm quyền (trong đó có Chủ tịch UBND cấp xã) được giao xử phạt hành chính đối với một hành vi vi phạm, đồng thời Nghị định 109/2026/NĐ-CP cũng có quy định thêm hình thức xử phạt bổ sung đi kèm thì người có thẩm quyền đó có quyền áp dụng hình thức bổ sung tương ứng. Do đó, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn đối với một số hành vi vi phạm.
Những hành vi có thể bị Chủ tịch UBND xã tước chứng chỉ hành nghề
Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hoạt động hành nghề luật sư được quy định chi tiết tại Điều 8, Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 84 và điểm a khoản 9 Điều 8, Nghị định 109/2026/NĐ-CP thì Chủ tịch UBND cấp xã có thể áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư ngước ngoài tại Việt Nam từ 1 tháng đến 3 tháng đối với các hành vi vi phạm sau:
Cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ngoài cơ quan, tổ chức mà luật sư đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.
Thành lập hoặc tham gia thành lập từ hai tổ chức hành nghề luật sư trở lên; làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động.
Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định; hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận.
Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư; hoạt động không đúng phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.
Quốc Doanh - Ngọc Dung