Chuẩn hóa vùng trồng, mở rộng cơ hội xuất khẩu nông sản

Chuẩn hóa vùng trồng, mở rộng cơ hội xuất khẩu nông sản
4 giờ trướcBài gốc
Nông dân thu hoạch chanh không hạt tại xã Song Lộc (Vĩnh Long). Đây là một trong những vùng nguyên liệu liên kết của HTX Thành Chí đang được mở rộng để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang thị trường Hà Lan.
Tại Vĩnh Long, cùng với việc rà soát, chuyển đổi mã số vùng trồng theo quy định mới, địa phương đang tập trung xây dựng các vùng nguyên liệu đạt chuẩn nhằm nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường xuất khẩu, hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
Thay đổi tư duy theo chuẩn thị trường
Tại nhiều địa phương trong tỉnh Vĩnh Long, người dân ngày càng nhận thức rõ tính quan trọng của mã số vùng trồng trong việc nâng cao giá trị nông sản. Nếu như trước đây nông sản chủ yếu tiêu thụ qua thương lái hoặc xuất khẩu theo hình thức tiểu ngạch thì hiện nay các thị trường nhập khẩu đều yêu cầu truy xuất nguồn gốc rõ ràng, kiểm soát dư lượng hóa chất và tuân thủ quy trình sản xuất nghiêm ngặt.
Ông Trần Quốc Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Xoài cát chu An Lộc (xã An Phú Tân) cho biết, vùng nguyên liệu xoài cát chu tại xã Hòa Tân của đơn vị thời gian qua đã được tiêu thụ tại các thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia và New Zealand. Hiện nay, hợp tác xã đang xúc tiến xây dựng mã số vùng trồng cho xoài tượng da xanh tại xã An Phú Tân nhằm đưa sản phẩm vào các thị trường có giá trị cao như: Hàn Quốc và châu Âu. Với vùng nguyên liệu liên kết ngày càng mở rộng, năng lực thu mua của hợp tác xã hiện đạt khoảng 200 tấn xoài mỗi năm và đang hướng đến tăng sản lượng xuất khẩu trong những năm tới.
Theo ông Minh, quá trình xây dựng mã số vùng trồng đã góp phần thay đổi nhận thức của thành viên hợp tác xã và nông dân liên kết sản xuất. Từ chỗ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nhiều hộ dân đã chủ động ghi chép nhật ký canh tác, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Người dân từng bước chuyển từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo nhu cầu thị trường và yêu cầu của doanh nghiệp thu mua. Nhờ đó, chất lượng sản phẩm được nâng lên, đầu ra ổn định hơn và giá trị kinh tế cũng được cải thiện đáng kể.
Tương tự, Hợp tác xã Thành Chí (xã Tân An) hiện phát triển hơn 312 ha chanh không hạt với 326 thành viên liên kết tham gia sản xuất. Nhờ xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng quy trình sản xuất an toàn và thực hiện truy xuất nguồn gốc, nhiều năm qua sản phẩm chanh không hạt của hợp tác xã được xuất khẩu ổn định sang thị trường Hà Lan thông qua doanh nghiệp liên kết.
Theo ông Phan Đức Tài, Giám đốc Hợp tác xã Thành Chí, mã số vùng trồng là điều kiện tiên quyết để nông sản tham gia các thị trường xuất khẩu chính ngạch và duy trì đầu ra bền vững. Trước nhu cầu thu mua ngày càng tăng của doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác xã đang tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu tại các xã Song Lộc, Tập Ngãi và Tập Sơn. Vì vậy, hợp tác xã mong muốn ngành chức năng hỗ trợ hoàn thiện thủ tục cấp mã số vùng trồng đối với các diện tích mới liên kết, góp phần tạo nguồn cung ổn định, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị sản phẩm chanh không hạt của địa phương.
Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Long Thái Phước Lộc cho rằng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sản xuất nông nghiệp không thể tiếp tục theo hướng nhỏ lẻ, tự phát. Muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị và nâng cao sức cạnh tranh, các đơn vị kinh tế tập thể cần tăng cường năng lực quản lý, mở rộng liên kết sản xuất - tiêu thụ và tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường.
“Giai đoạn xuất khẩu tiểu ngạch với cách làm tự phát đã khép lại. Để tham gia thị trường quốc tế, nông sản buộc phải đi theo con đường chính ngạch, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mã số vùng trồng, kiểm dịch thực vật và truy xuất nguồn gốc”, ông Lộc khẳng định.
Mã số vùng trồng không chỉ là điều kiện bắt buộc để xuất khẩu chính ngạch mà còn là công cụ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tạo niềm tin với đối tác. Vì vậy, việc lựa chọn chủ thể đứng tên mã số vùng trồng cần được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm đủ năng lực quản lý, tài chính và duy trì các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định.
Trong quá trình phát triển mã số vùng trồng, hợp tác xã được xem là cầu nối quan trọng giữa nông dân và doanh nghiệp. Thông qua hợp tác xã, việc tổ chức sản xuất, áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, ký kết hợp đồng tiêu thụ và truy xuất nguồn gốc thuận lợi hơn.
Xây dựng vùng nguyên liệu
Nông dân thu hoạch chanh không hạt tại xã Song Lộc (Vĩnh Long).
Theo ông Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, việc xây dựng mã số vùng trồng xuất phát từ yêu cầu của các nước nhập khẩu. Đối với thị trường Trung Quốc, mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để xuất khẩu chính ngạch. Trong khi đó, các thị trường như : EU, Hoa Kỳ, Australia… còn yêu cầu thêm các tiêu chuẩn như: GlobalGAP, hữu cơ hoặc các chứng nhận chất lượng tương đương.
Hiện, Việt Nam đã có 14 loại trái cây được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Đối với Vĩnh Long, nhiều mặt hàng chủ lực như: sầu riêng, chôm chôm, nhãn, mít, bưởi và dừa đang có cơ hội mở rộng thị phần nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc.
Những năm gần đây, công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển đáng kể, góp phần hình thành các vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 1.006 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói với tổng diện tích gần 34.000 ha. Trong đó có 733 mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích hơn 27.349 ha, đủ điều kiện cung ứng cho nhiều thị trường như : Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Australia, New Zealand, Hàn Quốc… đối với các mặt hàng chủ lực sầu riêng, chôm chôm, nhãn, bưởi, khoai lang và dừa…
Bên cạnh đó, tỉnh đã cấp 202 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa với diện tích hơn 6.610 ha và 71 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu nông sản. Việc phát triển mã số vùng trồng được triển khai gắn với định hướng xây dựng các vùng sản xuất tập trung đối với những ngành hàng chủ lực của địa phương.
Hiện, tỉnh có hơn 98.000 ha cây ăn trái với nhiều loại cây đặc sản như: sầu riêng, bưởi, cam, xoài, chôm chôm, nhãn…, trong đó khoảng 10.000 ha đã được cấp mã số vùng trồng. Đối với cây dừa, địa phương đã hình thành nhiều vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu, với hơn 21.700 ha được cấp mã số vùng trồng và trên 30.700 ha dừa hữu cơ được chứng nhận đạt chuẩn quốc tế. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Vĩnh Long tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho nông sản địa phương.
Năm 2026, toàn tỉnh có 52 xã, phường đăng ký xây dựng mới mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 7.700 ha. Trong đó, diện tích dừa chiếm hơn 4.400 ha; còn lại là sầu riêng, mít, bưởi, chôm chôm, nhãn và chanh không hạt.
Theo ông Lê Văn Dũng, bên cạnh việc phát triển mã số vùng trồng mới, địa phương đang tập trung rà soát, chuyển đổi các mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo quy định mới nhằm bảo đảm duy trì điều kiện xuất khẩu lâu dài. Định hướng phát triển này cũng gắn liền với mục tiêu xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung theo quy hoạch.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Châu Văn Hòa cho rằng, muốn nâng cao giá trị nông sản, trước hết phải tổ chức lại sản xuất theo từng vùng chuyên canh, xác định rõ loại cây trồng chủ lực phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường.
Theo ông Châu Văn Hòa, việc phát triển mã số vùng trồng không đơn thuần là hoàn thiện hồ sơ thủ tục mà phải gắn với quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư hạ tầng và quản lý chất lượng từ gốc. Các địa phương cần xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, tạo điều kiện cho hợp tác xã tham gia liên kết sản xuất, thu mua, sơ chế và tiêu thụ nông sản.
Một trong những vấn đề được tỉnh đặc biệt quan tâm hiện nay là kiểm soát tồn dư Cadimi trong đất canh tác. Đây là chỉ tiêu đang được nhiều thị trường nhập khẩu giám sát chặt chẽ đối với các mặt hàng như: sầu riêng, bưởi, xoài và chanh. Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của nông sản địa phương là rất lớn.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng định hướng phát triển mạnh các vùng nguyên liệu hữu cơ, đặc biệt là vùng dừa hữu cơ phục vụ xuất khẩu; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cơ sở đóng gói, cơ sở kiểm nghiệm chất lượng và tham gia liên kết tiêu thụ với nông dân, hợp tác xã.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và các thị trường nhập khẩu liên tục nâng cao hàng rào kỹ thuật, lợi thế không còn nằm ở diện tích sản xuất mà ở khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và hình thành các vùng nguyên liệu tập trung không chỉ là yêu cầu bắt buộc để xuất khẩu mà còn là điều kiện để nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.
Từ yêu cầu của thị trường xuất khẩu, mã số vùng trồng đang dần trở thành “tấm hộ chiếu” cho nông sản Vĩnh Long bước vào các chuỗi cung ứng hiện đại. Quá trình xây dựng và quản lý mã số vùng trồng không chỉ giúp nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của nông dân theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm hơn với thị trường. Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch bài bản, hợp tác xã phát huy tốt vai trò liên kết và doanh nghiệp đồng hành trong tiêu thụ sản phẩm, nông sản Vĩnh Long sẽ có thêm cơ hội khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.
Bài và ảnh: Thanh Hòa (TTXVN )
Nguồn Tin Tức TTXVN : https://baotintuc.vn/kinh-te/chuan-hoa-vung-trong-mo-rong-co-hoi-xuat-khau-nong-san-20260607081314475.htm