Những năm gần đây, Việt Nam coi sản phẩm Halal là một hướng đi quan trọng, nhằm thúc đẩy các động lực tăng trưởng. Halal không đơn thuần là một chứng nhận kỹ thuật, còn được nhìn nhận như “cầu nối mới, động lực mới” trong hợp tác thương mại - đầu tư giữa Việt Nam với các quốc gia và cộng đồng Hồi giáo trên toàn cầu.
Chia sẻ tại hội thảo bên lề Hội chợ mùa Xuân 2026, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc HTX Hà Nội Xanh nhìn nhận, thị trường Halal vẫn được xem là ngách nhỏ, nhưng thực tế lại rất lớn và còn khá nhiều dư địa. Bởi thị trường Halal thường có yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn, nhưng một khi đã đáp ứng được sẽ mở ra cơ hội khá rộng cho các DN Việt Nam.
“Hà Nội Xanh chú trọng tiêu chuẩn về sản phẩm Halal trên thế giới, đây không chỉ là “giấy thông hành” để xuất khẩu, còn là cách đo lường chất lượng sản phẩm một cách minh bạch, thay vì dựa vào truyền thông hay marketing. Trong 2 năm qua, HTX đã trực tiếp khảo sát tại hầu hết các quốc gia hồi giáo để tìm hiểu nhu cầu, thói quen tiêu dùng, từ đó chọn lọc sản phẩm phù hợp. Cách làm này giúp HTX tránh được hiện trạng “sản xuất rồi mới đi tìm thị trường”, bà Thu chia sẻ.
Sản phẩm Halal của Việt Nam ngày càng tạo uy tín tại thị trường Hồi giáo
Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT) mới đây cũng đã cấp Chứng nhận Halal cho các sản phẩm cà phê Collagen Healthy 4 in 1, ngũ cốc 25 loại hạt, ngũ cốc tổ yến của Công ty TNHH HR Essence. Đây được xem là tín hiệu tích cực, minh chứng cho thấy DN Việt đang từng bước vượt qua rào cản kỹ thuật để tiếp cận thị trường tiêu dùng Hồi giáo toàn cầu.
Ông Ramlan Osman, Giám đốc HALCERT đánh giá, Chứng nhận Halal được xem là “tấm vé thông hành” giúp các sản phẩm chế biến từ nông sản Việt Nam chinh phục thị trường quốc tế, đặc biệt là cộng đồng Hồi giáo tại Trung Đông, Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. “Ngay sau khi được cấp chứng chỉ, các sản phẩm đã xuất khẩu được đơn hàng đầu tiên sang thị trường Malaysia, cho thấy hiệu quả thực chất của việc đầu tư bài bản vào tiêu chuẩn Halal”, ông Ramlan Osman đơn cử.
Hiện nay, Malaysia đang nổi lên như một điểm đến tiềm năng đối với nhóm thực phẩm và đồ uống Halal, phục vụ cộng đồng Hồi giáo chiếm hơn 60% dân số nước này. Bà Auji Nabilah Binti Abdul Razak, Bí thư thứ nhất, Đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam cho biết, việc Việt Nam có thêm các sản phẩm đạt chứng nhận Halal mở ra cơ hội hợp tác không chỉ với Malaysia mà còn với nhiều thị trường khác.
“Malaysia là thị trường tiêu dùng có sức mua tốt, nhu cầu đa dạng, mức độ mở cửa cao và ít rào cản đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam nhờ cùng tham gia nhiều hiệp định trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN+. Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Malaysia trong lĩnh vực Halal được đánh giá là rất lớn, đặc biệt khi Việt Nam đã có Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia - đầu mối quan trọng trong việc hỗ trợ DN tiếp cận tiêu chuẩn Halal được công nhận quốc tế”, bà Auji Nabilah Binti Abdul Razak cho biết.
Chứng nhận Halal là tiêu chí ưu tiên hàng đầu
Thực tiễn hiện nay cũng cho thấy, sản phẩm Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn khi tiếp cận thị trường Halal, đặc biệt tại Malaysia. Theo Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, một trong những rào cản lớn nhất chính là vấn đề Chứng nhận Halal. Dù không phải yêu cầu bắt buộc đối với mọi mặt hàng, nhưng Chứng nhận Halal lại là tiêu chí ưu tiên hàng đầu của phần lớn nhà nhập khẩu, phân phối và bán lẻ sở tại. Việc thiếu chứng nhận khiến nhiều sản phẩm Việt khó tìm được vị trí trong hệ thống phân phối hiện đại.
Các DN cần xác định chiến lược bài bản, đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu thị trường Halal
Bên cạnh đó, quy trình xin cấp Chứng nhận Halal tại Malaysia được đánh giá là phức tạp và tốn kém, gây khó khăn cho nhiều DN Việt Nam, đặc biệt là DNVVN. Số lượng sản phẩm Việt có chứng chỉ Halal hiện vẫn còn hạn chế, trong khi cạnh tranh từ các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia ngày càng gay gắt. Các đối thủ này không chỉ có lợi thế về sản phẩm, mẫu mã, còn am hiểu sâu sắc thị trường tiêu dùng Hồi giáo.
Một thách thức khác là việc nhiều DN Việt chưa nghiên cứu đầy đủ thị hiếu, văn hóa tiêu dùng địa phương. Bao bì, nhãn mác, tên gọi sản phẩm chưa thực sự thân thiện với người tiêu dùng bản địa, khiến hàng Việt khó tiếp cận kênh bán lẻ hiện đại, dù chất lượng sản phẩm không thua kém.
Trước thực trạng đó, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ DN. Trong đó, nổi bật là việc kết nối các nhà nhập khẩu lớn, đồng thời tổ chức làm việc trực tiếp giữa các nhà nhập khẩu Malaysia với các tập đoàn lớn của Việt Nam nhằm tạo nền tảng để hàng Việt mở rộng thị phần bền vững hơn.
Trong trung và dài hạn, để hàng Việt có thể trụ vững tại thị trường Halal, các DN cần xác định chiến lược bài bản, đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu thị trường, điều chỉnh sản phẩm phù hợp văn hóa bản địa và xây dựng thương hiệu thông qua các kênh xúc tiến thương mại chuyên nghiệp.
Nguyễn Quỳnh/VOV.VN