Chương trình thời sự hôm nay (31-3): 'Đường ray mở lối đô thị'

Chương trình thời sự hôm nay (31-3): 'Đường ray mở lối đô thị'
15 phút trướcBài gốc
Tại điểm cầu trực tiếp ở Trường quay S1 có sự tham gia của hai khách mời: Ông Khuất Việt Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH một thành viên Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) và Kiến trúc sư (KTS) Trần Huy Ánh, Hội Kiến trúc sư Hà Nội. Ngoài ra, chương trình còn kết nối với hai điểm cầu là Cầu Long Biên và tuyến metro Cầu Giấy - Nhổn.
Đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông đoạn qua hồ Hoàng Cầu. Ảnh: Quang Thái
Trong bối cảnh HĐND thành phố Hà Nội vừa thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, vấn đề được đặt ra là Hà Nội sẽ phát triển theo cấu trúc nào trong giai đoạn mới và đường sắt đô thị giữ vai trò gì trong việc tổ chức lại không gian phát triển?
Đường sắt đô thị được nhìn nhận không chỉ là công trình giao thông mà là hạ tầng chiến lược, đóng vai trò trục xương sống kết nối các trung tâm, mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy hình thành đô thị nén, đồng thời tăng cường kết nối nội đô, liên vùng.
Các khách mời tham gia tọa đàm tại Trường quay S1 của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội. Ảnh: Viết Thành
Bám sát tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 188/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển mạng lưới đường sắt đô thị; Nghị quyết số 71/2025/NQ-HĐND về quy hoạch khu vực TOD, chương trình cùng các khách mời nhận diện những vấn đề đang đặt ra đối với Hà Nội, như kết nối mạng lưới, liên thông đa phương thức, khai thác không gian quanh ga, nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm hành khách. Đồng thời, qua đó khẳng định, phát triển đường sắt đô thị không chỉ giải bài toán đi lại, mà còn mở ra một lựa chọn phát triển mới cho Hà Nội trong tầm nhìn dài hạn.
Phát triển Hà Nội - câu chuyện “giải phóng” không gian, tư duy và năng lượng
KTS Trần Huy Ánh trao đổi tại Chương trình thời sự tại trường quay S1. Ảnh: Viết Thành
HĐND thành phố Hà Nội vừa thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Cùng với đó, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập những định hướng lớn, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Thủ đô.
Bàn về định hướng này, KTS Trần Huy Ánh cho rằng, trong cách nhìn của giới chuyên môn, Nghị quyết 02 ra đời đúng thời điểm hoàn thiện quy hoạch, với tinh thần có thể khái quát bằng 3 từ khóa: “Giải phóng” - gồm giải phóng không gian, giải phóng tư duy và giải phóng năng lượng.
Trước hết, giải phóng không gian là việc đặt Hà Nội trong vai trò trung tâm phát triển có tính dẫn dắt vùng. Thành phố không còn được nhìn trong phạm vi địa giới hành chính, mà mở rộng ra các đô thị kế cận, toàn vùng đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa. Cách tiếp cận này vừa góp phần giảm tải áp lực cho khu vực lõi đô thị, vừa tạo điều kiện để các địa phương trong vùng cùng phát triển.
Tiếp đó, giải phóng tư duy thể hiện ở việc thay đổi cách tiếp cận phát triển đô thị. Nếu trước đây, trọng tâm chủ yếu là khai thác quỹ đất trong khu vực nội đô cũ thì nay Hà Nội đứng trước cơ hội mở rộng tầm nhìn, phát triển theo hướng liên kết vùng và đa trung tâm, tạo ra dư địa mới cho tăng trưởng.
Cuối cùng, giải phóng năng lượng gắn với sự phát triển của hệ thống hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia. Nếu trước đây, tốc độ tàu chỉ khoảng 50km/giờ, thì nay có thể đạt từ 100 - 160km/giờ; với đường sắt đô thị, tốc độ cũng nâng lên khoảng 50 - 80km/giờ.
Đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội. Ảnh Phạm Hùng
Những thay đổi này không chỉ là cải tiến về kỹ thuật, mà còn mở ra bước chuyển về không gian phát triển. Hà Nội vì thế không còn bị giới hạn trong bán kính khoảng 30km, mà cần được nhìn nhận trong một không gian rộng hơn nhiều - từ 60km đến hàng trăm km, gắn với liên kết vùng và kết nối quốc tế.
Đường sắt đô thị định hình không gian phát triển Hà Nội trong 100 năm tới
Ông Khuất Việt Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH một thành viên Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) trao đổi tại trường quay S1. Ảnh: Viết Thành
Nhìn hiện tại như một gạch nối giữa Hà Nội của ký ức và Hà Nội của tương lai, trong tinh thần của Quy hoạch 100 năm và Nghị quyết 02, hạ tầng giao thông công cộng, đặc biệt là đường sắt đô thị, sẽ góp phần tạo nên cây cầu phát triển ấy.
Ông Khuất Việt Hùng cho biết: Có thể thấy, việc kết nối đường sắt đô thị nói riêng và hạ tầng giao thông công cộng nói chung trong quy hoạch tầm nhìn 100 năm thể hiện rõ khát vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô, cũng như kỳ vọng mà Trung ương đặt ra. Qua đó, phát triển hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt là đường sắt đô thị cho thấy hình hài và định hướng phát triển của thành phố trong 100 năm tới.
Từ mạng lưới giao thông nói chung, đặc biệt là đường sắt đô thị, có thể hình dung không gian đô thị sẽ phát triển như thế nào. Không chỉ vậy, thông qua đường sắt đô thị còn có thể nhìn thấy dòng chảy của nhu cầu đi lại, dòng chảy của kinh tế - xã hội, cũng như các hoạt động phát triển đa dạng sẽ vận hành dọc theo các tuyến này.
Đó chính là điều mà quy hoạch mạng lưới giao thông công cộng cũng như mạng lưới đường sắt đô thị trong tầm nhìn 100 năm của Hà Nội hướng tới.
Đường sắt đô thị định hình không gian phát triển đô thị
Kiến trúc sư Trần Huy Ánh – Hội Kiến trúc sư Hà Nội nhìn nhận, việc đưa vào vận hành hơn 20km đường sắt đô thị thời gian qua, dù còn khiêm tốn, nhưng đã bước đầu hình thành một thói quen di chuyển mới cho người dân Thủ đô. Các tuyến đường sắt này không chỉ rút ngắn thời gian đi lại mà còn tạo ra một phương thức giao thông ổn định, ưu tiên, góp phần giảm áp lực lên hạ tầng mặt đất.
Ông chia sẻ, từ trải nghiệm cá nhân trong khi di chuyển trên trục Thanh Xuân – khu vực Trường Đại học Kiến trúc với mật độ giao thông đông đúc, có thể thấy rõ giá trị của hệ thống đường sắt đô thị. Tuy nhiên, theo ông, quy mô hiện tại vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong bối cảnh đầu tư đường sắt đô thị có chi phí lớn, Hà Nội cần có cách tiếp cận hợp lý, lựa chọn thứ tự ưu tiên, bảo đảm các tuyến đầu tiên phát huy hiệu quả cao nhất, đóng góp thiết thực cho giao thông đô thị.
Đồng thời, cần tính đến việc hiện đại hóa hệ thống đường sắt quốc gia, tăng cường kết nối liên vùng, liên vận quốc tế, đặc biệt là các trục đi qua cầu Long Biên, qua đó tạo sự liên thông với các tuyến đường sắt đô thị hiện có. Việc lựa chọn hướng đi tập trung, có trọng điểm sẽ giúp hệ thống đường sắt phát huy hiệu quả theo từng giai đoạn, từng bước góp phần giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông trước mắt và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Trong khi đó, ông Khuất Việt Hùng cho rằng, cần hiểu đúng bản chất của đường sắt đô thị không chỉ là một phương thức vận tải, mà là nền tảng để tổ chức lại không gian phát triển đô thị. Theo đó, không phải “đô thị định hướng giao thông công cộng” theo cách hiểu thông thường, mà là đô thị phát triển trên nền giao thông công cộng, trong đó đường sắt đô thị giữ vai trò trục xương sống.
Với năng lực vận tải lớn, chỉ cần mặt cắt ngang khoảng 7m cho hai chiều tuyến nhưng có thể đáp ứng tới 30.000 hành khách/giờ/hướng, đường sắt đô thị vượt trội so với giao thông đường bộ nếu xét trên cùng một năng lực chuyên chở. Nếu đáp ứng lưu lượng tương tự bằng đường bộ, sẽ cần quỹ đất rất lớn không chỉ cho hạ tầng giao thông mà còn cho bãi đỗ xe và các công trình phụ trợ.
Từ lợi thế đó, đường sắt đô thị có khả năng định hình lại không gian kinh tế – xã hội. Nhu cầu di chuyển nhanh, ổn định sẽ kéo theo xu hướng bố trí nơi ở, nơi làm việc và các hoạt động dịch vụ xung quanh khu vực nhà ga. Đây chính là cơ sở hình thành mô hình đô thị nén, với không gian được tổ chức theo chiều cao và chiều sâu, tích hợp chức năng ở, thương mại, dịch vụ và hạ tầng xã hội, tất cả đều được phục vụ bởi hệ thống vận tải công cộng khối lượng lớn.
Ông Khuất Việt Hùng cũng nhấn mạnh, không chỉ ở quy mô đô thị, khi phát triển các tuyến đường sắt tốc độ cao dọc đất nước, đây sẽ là cơ hội để tái cấu trúc không gian phát triển kinh tế quốc gia. Hệ thống đường sắt, từ đô thị đến liên vùng và liên vận quốc tế, nếu được đầu tư đồng bộ, sẽ tạo ra mạng lưới kết nối hiệu quả, góp phần phân bố lại dân cư, hoạt động sản xuất và dịch vụ trên phạm vi rộng.
Vì thế, giá trị cốt lõi của các hệ thống đường sắt này là giúp phát triển kinh tế – xã hội trong khi vẫn tiết kiệm tài nguyên, đặc biệt là đất đai. Đây là yếu tố then chốt để bảo đảm dư địa phát triển lâu dài, đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số trong tương lai, đồng thời duy trì chất lượng sống với hệ thống giao thông nhanh, thuận tiện và bền vững.
Cầu Long Biên: Từ “dự án viển vông” đến biểu tượng hạ tầng lịch sử
Cầu Long Biên. Ảnh: TTXVN
Tham gia tại điểm cầu Long Biên, KTS Nguyễn Tài Thu chia sẻ, trước khi được xây dựng, cầu Long Biên từng bị đánh giá là một “dự án viển vông”. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng cách đây hơn 120 năm, việc xây dựng cây cầu này không chỉ phục vụ giao thông Hà Nội mà còn là một mắt xích quan trọng trong kế hoạch phát triển hạ tầng quy mô lớn.
Cụ thể, năm 1897, Công ty Daydé & Pillé (Pháp) đã triển khai xây dựng cầu Long Biên với tổng mức đầu tư khoảng 6 triệu Franc, thuộc hệ thống 5 tuyến đường sắt có tổng chiều dài 1.660km.
“Với quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của sông Hồng, nhiều ý kiến khi đó cho rằng đây là dự án không khả thi. Tuy nhiên, chỉ trong chưa đầy 4 năm thi công, cầu Long Biên đã hoàn thành và trở thành một trong những cây cầu dài nhất thế giới vào đầu thế kỷ XX”, KTS Nguyễn Tài Thu nhấn mạnh.
Cầu Long Biên là bài học về phát triển đô thị
KTS Nguyễn Tài Thu cho rằng, nhìn từ cầu Long Biên gợi mở về một trục phát triển đô thị mới của Hà Nội trong bối cảnh mới. Để xác định đúng vị trí, vai trò của cầu Long Biên trong tầm nhìn phát triển 100 năm, một số vấn đề cần được làm rõ.
Thứ nhất, “sức khỏe” của cây cầu sau hơn 120 năm khai thác hiện nay ra sao, liệu có đủ điều kiện để tiếp tục đảm nhiệm vai trò trong thời gian tới hay không?
Thứ hai, giá trị lịch sử được tích lũy qua hơn một thế kỷ sẽ được bảo tồn, khai thác và phát huy như thế nào trong bối cảnh phát triển mới?
Thứ ba, cần xác định rõ những yếu tố nào của cầu Long Biên cần được gìn giữ, yếu tố nào tiếp tục phát huy và yếu tố nào cần được bổ sung, làm mới để đáp ứng các mục tiêu phát triển đô thị hiện đại?
Từ đó có thể thấy, cầu Long Biên không chỉ là một công trình giao thông, mà còn là bài học về phát triển đô thị - về sự gắn kết giữa tầm nhìn dài hạn với các mục tiêu tổng thể. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phù hợp, hướng tới phát triển Hà Nội hiệu quả, bền vững trong thời gian tới.
Thách thức lớn nhất là tổ chức thực hiện đồng bộ, thông suốt
Theo ông Khuất Việt Hùng, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đầy tham vọng đã được đặt ra trong Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVIII, với tầm nhìn 100 năm, Hà Nội buộc phải đồng thời triển khai rất nhiều nhiệm vụ lớn. Riêng trong lĩnh vực giao thông, đặc biệt là đường sắt đô thị, thành phố phải cùng lúc thực hiện nhiều tuyến khác nhau.
Ông Khuất Việt Hùng.
Hiện nay, Hà Nội đang triển khai tuyến số 05, tuyến số 02 và tiếp tục thi công đoạn ngầm còn lại của tuyến số 03. Thực tế cho thấy áp lực xây dựng đang diễn ra trên nhiều tuyến phố, cùng các công trình hạ tầng khác như hệ thống chống ngập được triển khai đồng loạt.
Theo chỉ đạo mới, tuyến số 05 dự kiến hoàn thành trong vòng 5 năm, nhưng thời gian đang được rút ngắn xuống còn khoảng 36 tháng, tức chỉ còn 3 năm. Mục tiêu đặt ra không chỉ là hoàn thành khoảng 100km đường sắt đô thị, mà nâng lên 120km vào năm 2030, tiến tới định hình một mạng lưới không dừng ở quy mô 650km như trước, mà mở rộng lên gần 1.000km theo quy hoạch mới.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của Hà Nội trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045, theo ông Khuất Việt Hùng, chính là bài toán tổ chức thực hiện. Trong đó, yêu cầu đặt ra là vừa bảo đảm tính hợp lý, khoa học, vừa phải vận hành một cách “mềm mại, thông suốt”.
Quá trình thi công chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tổ chức giao thông đô thị, khi nhiều tuyến đường buộc phải đóng hoặc thu hẹp mặt đường. Đơn cử, trên các trục lớn như Đại lộ Thăng Long hay Nguyễn Chí Thanh, việc thi công tuyến số 05 sẽ gây áp lực không nhỏ lên giao thông khu vực. Vấn đề đặt ra là phải tổ chức giao thông như thế nào để bảo đảm lưu thông, không chỉ trên từng hành lang cụ thể mà trên toàn bộ mạng lưới đô thị.
Bên cạnh đó là những bài toán lớn về nguồn lực và phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng hơn cả là làm sao để mọi hoạt động được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng; thông tin phải được cung cấp kịp thời, đầy đủ tới người dân, từ việc đóng đường trong bao lâu, lộ trình thay thế ra sao, khung giờ di chuyển phù hợp, đến lựa chọn phương tiện và điểm đỗ xe.
“Tất cả đều là những thách thức rất lớn. Việc tổ chức phải bảo đảm thông suốt, liên hoàn, mềm mại, hướng tới một đô thị văn minh, lịch sự, không gây cảm giác nặng nề, căng thẳng cho người dân”, ông Khuất Việt Hùng nhấn mạnh.
Đường sắt - ký ức đô thị và động lực mở ra tương lai Thủ đô
KTS Trần Huy Ánh cho rằng, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thời kỳ được xem là “kỷ nguyên đường sắt” sự phát triển của hạ tầng đường sắt đã xóa nhòa khoảng cách giữa các quốc gia, đô thị trên thế giới, từ châu Á đến châu Âu và châu Mỹ. Đây là bước ngoặt lớn, tạo nên sự kết nối chưa từng có trong lịch sử phát triển đô thị.
KTS Trần Huy Ánh tại điểm cầu trường quay S1. Ảnh: Viết Thành
Tại Hà Nội, dấu ấn của kỷ nguyên này không chỉ hiện hữu qua mạng lưới giao thông, mà còn được lưu giữ sâu sắc trong ký ức đô thị, tiêu biểu là cầu Long Biên, một biểu tượng gắn bó với nhiều thế hệ người dân Thủ đô. Sự ra đời của cây cầu này cũng đánh dấu quá trình chuyển dịch xã hội quan trọng, khi nhiều người dân từ các làng nghề như Phú Thị trở thành công nhân hỏa xa trong ngành đường sắt, hình thành lớp công nhân tiên phong của đô thị hiện đại.
Từ nền tảng đó, các thế hệ tiếp theo có điều kiện được học hành, tham gia vào nhiều lĩnh vực mới như đường sắt, bưu điện. Hạ tầng giao thông phát triển đã rút ngắn đáng kể khoảng cách địa lý. Nếu trước đây, hành trình từ Hà Nội xuống Hải Phòng có thể kéo dài nhiều ngày, thì đến năm 1941, thời gian di chuyển chỉ còn khoảng một tiếng rưỡi mỗi chiều, một thay đổi mang tính cách mạng trong đời sống và giao thương.
Không chỉ dừng lại ở việc kết nối liên vùng, hệ thống đường sắt với tổng chiều dài khoảng 1.700km còn góp phần hình thành hàng trăm đô thị dọc tuyến. Riêng tại Hà Nội, sự xuất hiện của tàu điện, một dạng đường sắt đô thị tốc độ chậm đã thúc đẩy sự ra đời của các khu dân cư mới, các làng nghề, phố nghề dọc theo tuyến, đồng thời tạo tiền đề cho nhiều ngành công - kỹ nghệ ra đời.
Có thể nói, trong một giai đoạn lịch sử, chính đường sắt đã góp phần hình thành nên diện mạo của Hà Nội. Và trong kỷ nguyên mới, với sự xuất hiện của đường sắt tốc độ cao, đường sắt hiện đại và hệ thống đường sắt đô thị, Thủ đô sẽ tiếp tục có thêm động lực để bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Đường sắt đô thị và sự thay đổi “cảm xúc đô thị”
Tại điểm cầu Nhà ga Metro Cầu Giấy, chuyên gia Emmanuel Cerise chia sẻ, ông có cơ hội tham gia dự án từ những giai đoạn đầu khi tuyến này còn được nghiên cứu theo hướng phục hồi tàu điện mặt đất, trước khi chuyển đổi thành hệ thống đường sắt đô thị kết hợp đi trên cao và đi ngầm.
Theo ông, mỗi tuyến đường sắt đô thị không chỉ là một công trình hạ tầng mà còn tạo ra sự thay đổi đáng kể đối với không gian và cách con người cảm nhận về đô thị.
“Có thể thấy, khi một tuyến đường sắt đô thị xuất hiện, những khu vực trước đây vốn khó tiếp cận, tạo cảm giác xa xôi, nay trở nên thuận tiện và gần gũi hơn nhờ khả năng kết nối”, ông Emmanuel Cerise nhận định.
Đối với người dân Hà Nội, trải nghiệm này còn mở ra một cách nhìn khác về thành phố. Khi di chuyển trên cao, quan sát toàn cảnh đô thị, họ có thể cảm nhận rõ hơn một Hà Nội đang chuyển mình theo hướng hiện đại.
Không dừng lại ở yếu tố giao thông, đường sắt đô thị còn mang đến những trải nghiệm mới trong đời sống hàng ngày - từ âm thanh của đoàn tàu, không gian nhà ga đến nhịp chờ và hành trình di chuyển... Những yếu tố tưởng như nhỏ này lại góp phần định hình “cảm xúc đô thị”, tạo nên một diện mạo mới gắn với nhịp sống hiện đại.
Cơ hội phát triển dịch vụ tiện ích quanh điểm ga
Đường sắt đô thị trên cao Cát Linh- Hà Đông. Ảnh Thanh Hải
Trao đổi kinh nghiệm của Paris và Grand Paris, chuyên gia Emmanuel Cerise cho rằng, nhà ga trong đô thị hiện đại cần được nhìn như một điểm kết nối giao thông, dịch vụ, không gian công cộng và những trung tâm phát triển mới của đô thị.
Khi nhà ga đường sắt đô thị xuất hiện tại một khu vực nó sẽ tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với không gian đô thị xung quanh. Khác với các nhà ga đường sắt truyền thống - nơi phần lớn dịch vụ tiện ích được tích hợp bên trong thì với ga đường sắt đô thị, các dịch vụ này thường không được bố trí quá nhiều trong phạm vi nhà ga.
Chính vì vậy, khu vực xung quanh điểm ga hay còn gọi là phân khu đô thị TOD, sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Tại đây sẽ hình thành các hệ thống dịch vụ tiện ích như nhà hàng, quán cà phê, không gian dạo bộ, mua sắm… đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân và hành khách. Qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế - dịch vụ, hình thành các không gian đô thị hiện đại, sôi động và thân thiện hơn với người đi bộ.
Kỳ vọng mô hình “thành phố 15 phút”
Với tư cách một người đã sống, làm việc lâu năm và gắn bó với Hà Nội, ông Emmanuel Cerise chia sẻ nhiều kỳ vọng về tương lai của thành phố.
“Tôi đã sống ở Hà Nội gần 15 năm và nhận thấy nhiều người dân cũng có chung mong muốn như tôi: Hà Nội trong những năm tới sẽ ngày càng sạch hơn, không gian sống được cải thiện, tình trạng ô nhiễm không khí, tiếng ồn, khói bụi từ giao thông và các công trình được kiểm soát tốt hơn”, ông Emmanuel Cerise nói.
Đặc biệt, ông bày tỏ kỳ vọng Hà Nội có thể phát triển theo mô hình “thành phố 15 phút” - một xu hướng đô thị hiện đại đang được áp dụng tại nhiều thành phố châu Âu.
“Trong mô hình này, chỉ khoảng 15 phút, người dân có thể tiếp cận các nhu cầu thiết yếu như làm việc, học tập, mua sắm, dịch vụ công… bằng giao thông công cộng hoặc đi bộ. Đây là điều tôi rất mong Hà Nội có thể hướng tới trong tương lai”, ông Emmanuel Cerise chia sẻ.
"Canh tân đô thị" có chiều sâu
Nhìn từ thực tiễn Hà Nội, theo KTS Trần Huy Ánh, “canh tân đô thị” không đơn thuần xây mới hay mở rộng mà là quá trình đổi mới có chiều sâu, đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa phát triển và gìn giữ.
Hà Nội là đô thị có bề dày lịch sử, nơi các giá trị truyền thống và hiện đại luôn song hành. Thành phố vừa không ngừng chuyển mình theo hướng hiện đại, vừa phải giữ được hồn cốt của một đô thị nghìn năm văn hiến. Đây chính là đặc thù đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cách tiếp cận phát triển.
KTS Trần Huy Ánh. Ảnh: PV
Trong bối cảnh các khu vực ngày càng được kết nối với tốc độ cao, Hà Nội có thêm điều kiện để mở rộng không gian phát triển, đồng thời chủ động bảo tồn các khu vực mang giá trị lịch sử. Ngược lại, nếu tiếp tục phát triển theo mô hình bám dọc các trục đường với tốc độ di chuyển chậm, đô thị không chỉ khó tạo đột phá, mà còn đối mặt với nguy cơ quá tải, thu hẹp không gian xanh, không gian công cộng và các khu vực cần bảo tồn.
Theo KTS Trần Huy Ánh, khi tăng cường kết nối bằng các phương thức giao thông tốc độ cao, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị, sẽ hình thành các hành lang liên kết hiệu quả giữa các trung tâm. Chính những khoảng “trống” được tạo ra giữa các khu vực kết nối nhanh này lại trở thành dư địa quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa - lịch sử một cách chủ động, bền vững.
Từ góc nhìn này, việc gìn giữ các làng cổ, không gian văn hóa truyền thống có thể được tiếp cận như những “bảo tàng sống” trong lòng đô thị. Thay vì mở rộng theo hướng dàn trải, san lấp và lấn vào các không gian tự nhiên, giải pháp căn cơ là tổ chức lại cấu trúc đô thị gắn với hệ thống giao thông hiện đại, trong đó đường sắt đô thị giữ vai trò trụ cột - kết nối nhanh, hiệu quả và định hình lại không gian phát triển.
Kết nối - yếu tố then chốt trong phát triển đường sắt đô thị
Nếu phải chọn một khâu then chốt trong phát triển Metro để viết tiếp câu chuyện “đường ray mở lối đô thị”, điều cần nhất là mạng lưới, sự kết nối hay cách tổ chức không gian sống quanh các nhà ga. Đây là quan điểm của ông Khuất Việt Hùng, bởi ông cho rằng: Từ khóa cốt lõi là kết nối. Mạng lưới thì cũng phải kết nối với nhau; tổ chức không gian sống như thế nào cũng phải gắn với kết nối.
Ông Khuất Việt Hùng trao đổi tại trường quay. Ảnh: PV
Ông Khuất Việt Hùng đưa ra ví dụ trên tuyến Cát Linh - Hà Đông có hai nhà ga khá đặc biệt. Thứ nhất là ga Vành đai 3. Xung quanh khu vực này, mật độ dân cư và chiều cao công trình rất lớn. Tuy nhiên, sản lượng hành khách bình quân mỗi ngày theo khảo sát chỉ khoảng 2.500 - 3.000 lượt. Trong khi đó, tại ga Văn Quán và ga Yên Nghĩa, khu vực xung quanh chỉ có mỗi bên một khối đô thị, mật độ dân cư thấp hơn nhiều so với khu vực ga Vành đai 3 nhưng sản lượng hành khách lại cao hơn, khoảng gấp rưỡi.
“Sự khác biệt nằm ở kết nối. Kết nối bộ hành giữa các khu đô thị và nhà ga Văn Quán tương đối thuận lợi. Trong khi đó, kết nối đi bộ từ các khu vực xung quanh ga Vành đai 3, kể cả từ các trường đại học, lại kém thuận tiện, khoảng cách xa, tiếp cận khó khăn, dù dân cư đông. Do đó, “kết nối” là từ khóa then chốt. Muốn mạng lưới đường sắt đô thị thực sự hiệu quả thì các tuyến, ga phải được kết nối với nhau", ông Khuất Việt Hùng phân tích.
Kết nối ở đây không chỉ là kết nối cứng về hạ tầng, thông qua việc trung chuyển hành khách giữa các nhà ga mà còn là kết nối mềm như vé, thanh toán, thông tin và lịch trình.
“Có thể nói, kết nối chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển của các phương thức giao thông đô thị, cũng như toàn bộ hệ thống giao thông nói chung, để giao thông thực sự trở thành “mạch máu” của đô thị”, ông Khuất Việt Hùng nhấn mạnh.
Thách thức lớn nhất là tổ chức thực hiện đồng bộ, thông suốt
Theo ông Khuất Việt Hùng, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đầy tham vọng đã được đặt ra trong Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVIII, với tầm nhìn 100 năm, Hà Nội buộc phải đồng thời triển khai rất nhiều nhiệm vụ lớn. Riêng trong lĩnh vực giao thông, đặc biệt là đường sắt đô thị, thành phố phải cùng lúc thực hiện nhiều tuyến khác nhau.
Ông Khuất Việt Hùng.
Hiện nay, Hà Nội đang triển khai tuyến số 05, tuyến số 02 và tiếp tục thi công đoạn ngầm còn lại của tuyến số 03. Thực tế cho thấy áp lực xây dựng đang diễn ra trên nhiều tuyến phố, cùng các công trình hạ tầng khác như hệ thống chống ngập được triển khai đồng loạt.
Theo chỉ đạo mới, tuyến số 05 dự kiến hoàn thành trong vòng 5 năm, nhưng thời gian đang được rút ngắn xuống còn khoảng 36 tháng, tức chỉ còn 3 năm. Mục tiêu đặt ra không chỉ là hoàn thành khoảng 100km đường sắt đô thị, mà nâng lên 120km vào năm 2030, tiến tới định hình một mạng lưới không dừng ở quy mô 650km như trước, mà mở rộng lên gần 1.000km theo quy hoạch mới.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của Hà Nội trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045, theo ông Khuất Việt Hùng, chính là bài toán tổ chức thực hiện. Trong đó, yêu cầu đặt ra là vừa bảo đảm tính hợp lý, khoa học, vừa phải vận hành một cách “mềm mại, thông suốt”.
Quá trình thi công chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tổ chức giao thông đô thị, khi nhiều tuyến đường buộc phải đóng hoặc thu hẹp mặt đường. Đơn cử, trên các trục lớn như Đại lộ Thăng Long hay Nguyễn Chí Thanh, việc thi công tuyến số 05 sẽ gây áp lực không nhỏ lên giao thông khu vực. Vấn đề đặt ra là phải tổ chức giao thông như thế nào để bảo đảm lưu thông, không chỉ trên từng hành lang cụ thể mà trên toàn bộ mạng lưới đô thị.
Bên cạnh đó là những bài toán lớn về nguồn lực và phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng hơn cả là làm sao để mọi hoạt động được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng; thông tin phải được cung cấp kịp thời, đầy đủ tới người dân, từ việc đóng đường trong bao lâu, lộ trình thay thế ra sao, khung giờ di chuyển phù hợp, đến lựa chọn phương tiện và điểm đỗ xe.
“Tất cả đều là những thách thức rất lớn. Việc tổ chức phải bảo đảm thông suốt, liên hoàn, mềm mại, hướng tới một đô thị văn minh, lịch sự, không gây cảm giác nặng nề, căng thẳng cho người dân”, ông Khuất Việt Hùng nhấn mạnh.
Tổ chức phát triển đô thị thông minh để hóa giải thách thức dài hạn
Theo KTS Trần Huy Ánh, trong hành trình hướng tới các mục tiêu phát triển dài hạn, đặc biệt khi Hà Nội đang đứng trước những thay đổi lớn cả trước mắt và lâu dài, việc xuất hiện những khó khăn, thách thức là điều tất yếu. Tuy nhiên, nếu có cách tiếp cận phù hợp, hoàn toàn có thể hình dung một kịch bản phát triển tích cực hơn, thay vì chỉ nhìn vào các rào cản.
Dẫn chứng từ bài học Grand Paris, ông cho biết, cách đây khoảng 20 năm, dù là một đô thị giàu có, Paris vẫn đối mặt với nhiều vấn đề xã hội, trong đó có tỷ lệ thất nghiệp cao. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Pháp đã quyết định triển khai dự án phát triển khoảng 200km đường sắt đô thị, với khoản đầu tư ban đầu khoảng 7 tỷ Euro.
Tuy nhiên, theo KTS Trần Huy Ánh, giá trị cốt lõi của Grand Paris không nằm ở quy mô hạ tầng, mà ở tư duy tổ chức phát triển đô thị một cách tổng thể và thông minh. Bài toán không chỉ là “đi như thế nào” hay “dừng ở đâu”, mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống giao thông và không gian đô thị theo hướng tích hợp, trong đó giao thông thông minh gắn chặt với phát triển đô thị thông minh.
Cụ thể, các tuyến đường sắt được thiết kế đi xuyên qua khu dân cư, giúp người dân tiếp cận giao thông công cộng thuận tiện hơn. Quan trọng hơn, người dân không đứng ngoài dự án mà trở thành một phần của quá trình phát triển - từ lực lượng tham gia trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng.
Song song với đó là quá trình cải tạo, canh tân đô thị. Nhiều khu nhà ở, kể cả những khu chất lượng thấp, được nâng cấp trong mối liên kết với hệ thống giao thông mới. Việc kết nối các ga đường sắt với xe buýt và các loại hình vận tải khác không chỉ nâng cao khả năng di chuyển, mà còn mở rộng không gian công cộng, hình thành mạng lưới đi bộ và tiếp cận đa dạng.
Đáng chú ý, từ 200km đường sắt đô thị, Grand Paris đã phát triển thêm khoảng 6.000km đường dành cho xe đạp và người đi bộ. Theo KTS Trần Huy Ánh, đây là kết quả mang ý nghĩa đặc biệt, bởi nó trực tiếp cải thiện chất lượng sống và thay đổi thói quen di chuyển của người dân.
Một điểm then chốt khác là cách thức huy động nguồn lực. Thay vì phụ thuộc vào ngân sách, dự án sử dụng các công cụ tài chính như trái phiếu xanh để huy động vốn xã hội. Không chỉ các tổ chức, người dân cũng có thể tham gia đầu tư và trở thành một phần của dự án. Nhờ đó, nguồn lực được huy động đạt 100% ngoài ngân sách, đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian hoàn vốn, từ dự kiến năm 2075 xuống còn khoảng năm 2035.
Từ câu chuyện này, KTS Trần Huy Ánh nhấn mạnh, vấn đề không phải là lựa chọn giải pháp riêng lẻ cho từng thách thức, mà là tổ chức một tiến trình phát triển đô thị thông minh, trong đó nhiều bài toán được tích hợp và giải quyết đồng thời. Chính cách tiếp cận này giúp giảm áp lực về nguồn lực, đồng thời tạo hiệu quả lan tỏa về kinh tế, xã hội và không gian đô thị.
Theo ông, điều quan trọng hiện nay không chỉ là quy hoạch hay triển khai một dự án cụ thể, mà là xây dựng được những kịch bản phát triển phù hợp, có sự tham gia của nhiều chủ thể. Đây mới là yếu tố quyết định để biến các mục tiêu dài hạn thành hiện thực.
Nền tảng giao thông công cộng: Lựa chọn cho đô thị đáng sống
Ông Khuất Việt Hùng. Ảnh: Viết Thành
Bàn về vai trò của giao thông công cộng trong cấu trúc phát triển mới của Hà Nội, ông Khuất Việt Hùng cho rằng, quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đã kế thừa nhiều giá trị từ các quy hoạch trước đây. Từ những bản quy hoạch đầu tiên đến nay, Hà Nội luôn nhất quán định hướng lấy giao thông công cộng làm nền tảng cho phát triển đô thị.
Sự kế thừa đó, cùng với những động lực và tư duy mới, tạo nên bước phát triển tiếp theo. Bởi nếu không phát triển đô thị dựa trên giao thông công cộng, câu hỏi đặt ra ngay là: Quỹ đất dành cho giao thông và bãi đỗ xe sẽ ở đâu?
Thực tế cho thấy, tại nhiều đô thị phụ thuộc vào ô tô, diện tích dành cho giao thông, bao gồm cả giao thông tĩnh và động, có thể chiếm tới 30 - 35% diện tích đô thị, nhưng vẫn ùn tắc. Trong khi đó, các đô thị phát triển trên nền tảng giao thông công cộng chỉ cần khoảng 12 - 15% diện tích cho giao thông mà vẫn bảo đảm hiệu quả vận hành.
Trong mô hình này, các phương tiện cá nhân vẫn tồn tại, cùng với xe đạp, xe buýt và các phương thức khác. Quan trọng là người dân vẫn di chuyển thuận tiện, tiếp cận được các dịch vụ đô thị.
Hơn thế, giao thông công cộng còn mang lại một chất lượng sống khác. Thay vì phải trực tiếp điều khiển phương tiện, người dân có thể di chuyển bằng tàu điện, xe buýt, từ đó có thêm thời gian và sự thư thái để tận hưởng cuộc sống.
“Tôi cho rằng, đó chính là giá trị quan trọng, là động lực để Hà Nội kiên định phát triển đô thị trên nền tảng giao thông công cộng trong tầm nhìn 100 năm”, ông Khuất Việt Hùng nhấn mạnh.
Tiếp tục cập nhật
Nhóm PV
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/chuong-trinh-thoi-su-hom-nay-31-3-duong-ray-mo-loi-do-thi-742355.html