Ông Tô Đình Thái (thứ hai từ phải sang) cùng đồng đội năm 1973 - ảnh tư liệu nhân vật cung cấp.
Những dấu chân… không dấu
Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, đơn vị của ông Thái gần như không còn khái niệm nghỉ ngơi. Trinh sát xong là đánh, đánh rất nhanh và cơ động. Tháng này, đơn vị thực hiện tới 15 trận - một cường độ mà chính ông sau này nhắc lại cũng lặng đi.
Trưa 30-4, sau một đêm đi đánh đồn trở về, ông Thái vẫn đang nằm ngủ. Trong cái mệt của thân thể, một âm thanh bất ngờ đánh thức ông Thái và đồng đội: tiếng radio. Anh em trong đơn vị gọi nhau.
Tin phát ra ngắn gọn: Sài Gòn giải phóng. Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Chiến tranh gắn với họ suốt những năm tháng tuổi trẻ, đã kết thúc. Ông Thái và đồng đội lập tức mượn một chiếc xe Jeep, năm, sáu người cùng nhau nhảy lên xe, phóng thẳng về phía cầu Bến Lức - nơi cách vị trí đơn vị ông đang đóng quân chưa đầy chục cây số, cách Dinh Độc Lập gần ba chục cây.
Con đường dẫn ra cầu Bến Lức hôm ấy không ai có thể quên. Dọc hai bên đường, binh lính phía bên kia vứt bỏ quân phục, súng đạn la liệt. Đa số chỉ còn mặc quần đùi, đứng thất thần, ủ rũ, hiền khô. Một số người tiến lại gần, bắt tay nói: “Thôi giờ hòa giải, hòa hợp dân tộc rồi anh em!”.
Đơn vị của ông nhanh chóng tiếp quản căn cứ Hải quân Bến Lức - một cơ sở lớn của địch với bồn chứa xăng dầu, máy móc và hệ thống hậu cần quan trọng. Đơn vị đóng quân tại đó một thời gian ngắn, rồi bàn giao lại cho lực lượng chủ lực.
Ông kể, mắt rưng rưng: “Ngày ba mươi tháng Tư… chú nhớ hoài, như mới hôm qua vậy…”. Ít ai biết, để đi đến buổi trưa ấy, những người lính đặc công như ông Thái đã sống như thế nào.
Ông Tô Đình Thái nhập ngũ năm 1971, khi vừa tròn mười tám tuổi. Ông kể: "Đến tuổi là đi. Cả thế hệ chú là vậy". Sau hai năm huấn luyện đặc công tại miền Bắc, ông nhận lệnh vào miền Nam, chiến đấu trong Đại đội 13 - Đoàn đặc công Vàm Cỏ, Quân khu 8. Từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông gắn chặt với dòng sông Vàm Cỏ Đông, vùng đất Long An - cửa ngõ Sài Gòn.
Ông khẳng định: gần như “chỗ nào cũng có dấu chân mình”. Nhưng đó là những dấu chân… không để lại dấu. “Đi không dấu - nấu không khói - nói không tiếng”. Nguyên tắc ấy vừa là kỹ thuật vừa là cách lính đặc công phải “nằm lòng” để triệt tiêu sự hiện diện, để tồn tại. Đi chân đất không để lại dấu dép. Dẫm lên nylon, hoặc đi giật lùi để xóa dấu vết. Nấu ăn bằng đèn cồn, không để khói bay lên. Ban ngày ẩn nấp, ban đêm hoạt động.
Đơn vị của ông quân số thực tế thường chưa đến ba chục người. Mỗi tổ khoảng dăm người, hoạt động phân tán, thương vong và bổ sung liên tục.
Vẹn nguyên một miền ký ức
Ông Tô Đình Thái cùng tấm ảnh ông được chụp vội năm 1974 để gửi ra Bắc.
Trong miền ký ức của ông Thái, trên sông Vàm Cỏ Đông địch bố trí dày đặc đồn bốt, việc tồn tại đã là một thử thách. Ông là trinh sát, vị trí quan trọng nhất trong lực lượng đặc công. Mọi trận đánh đều bắt đầu từ trinh sát. Ông phải nắm toàn bộ cách bố trí của địch: hàng rào, lô cốt, tháp canh, hỏa lực, đường ra vào… Tất cả phải ghi nhớ trong đầu, không được phép ghi chép.
Đi trinh sát kéo dài nhiều ngày, không ngủ, đói khát là chuyện thường. Một lần ông lọt vào chi khu cảnh sát Đức Hòa. Để tiếp cận, ông lặn dưới đám lục bình, đội cả mảng bèo lên đầu. Khi đã vào sát, một tên lính ra ngoài đi vệ sinh, ngay trên đầu ông. Khoảng khắc giữa sự sống và cái chết… ông nằm im, như nín thở. Tên lính quay vào, ông tiếp tục quan sát, rồi rút ra an toàn.
Lần khác, vào ấp ông bị phát hiện, bị chó nghiệp vụ và biệt kích truy đuổi, ông phải lặn xuống kênh mới thoát. Rồi có lần ông chứng kiến đồng đội dẫm phải mìn, hy sinh tại chỗ, thi thể bị địch kéo lê trong ấp để thị uy.
Ông kể giọng nhẹ lắm: “Chú chết hụt nhiều. May mắn trở về lành lặn, có lẽ trời còn thương”. Những trận đánh của đặc công diễn ra nhanh, gọn, chính xác. Mục tiêu đầu tiên luôn là “chuồng cu” - tháp canh. Nếu không diệt được, toàn bộ trận đánh có thể thất bại. Có lần, khi mũi trinh sát bị lộ trước giờ nổ súng, địch bắn M79 xuống. Một đồng đội bị thương, ông là mũi trưởng, buộc phải nổ súng sớm. B40, B41 dập hỏa điểm, thủ pháo ném liên tiếp. Khi rút ra, ông phát hiện đồng đội bị thương nằm lại. Ông quay vào, giữa làn đạn, ông kéo đồng đội ra từng mét.
Sau ngày 30-4, đơn vị ông rút về Tân An. Ông nghĩ sẽ ở lại quân đội lâu dài, nhưng bố ông không đồng ý. Cuối năm 1976, ông ra Bắc, làm việc tại Nhà in Khu tự trị Việt Bắc cho đến ngày nghỉ hưu. Cuộc đời chuyển sang một nhịp khác.
Từ người lính đặc công sống trong bóng tối, ông trở về làm một người lao động giữa đời thường, nhưng chiến tranh không rời khỏi ông. Nó ở lại trong cách ông nhớ vanh vách từng trận đánh, tên từng đồng đội. Ở lại trong những câu nói ngắn, thẳng, mộc, khô như lính trận, nhưng nghe rồi cứ đọng lại. Ở đó có sự dũng cảm, mưu trí, sắc lạnh… trong từng quyết định. Có niềm vui chiến thắng, nhẹ đi như vừa trút xuống một gánh nặng. Và sâu hơn hết, là một đời người đã đi qua chiến tranh.
Ông từng sống như bóng tối sông Vàm Cỏ, tồn tại trong những khe hở mong manh nhất giữa sự sống và cái chết. Để rồi khi hòa bình đến, ông trở lại làm một người bình thường. Nhưng có những điều không bao giờ phai nhạt. Những dòng sông Nam Bộ vẫn chảy, bờ kênh, rừng tràm xưa vẫn xanh. Cuộc sống đã phủ lên tất cả một lớp bình yên. Chỉ là, nếu chậm đi một chút, vẫn thấy đâu đó… những dấu chân. Dấu chân của những con người đã đi qua tiếng súng, tiếng bom để có ngày hòa bình.
Quang Khải