Toàn cảnh hội thảo.
Theo các ý kiến tại hội thảo, chuyển đổi xanh không còn là xu hướng mang tính khuyến khích mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với nông sản xuất khẩu, đặc biệt tại các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Ông Đặng Huy Đông - Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, cho rằng cùng với chất lượng sản phẩm, các báo cáo ESG, kiểm toán carbon và mức phát thải khí nhà kính đang trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa nông nghiệp.
Theo ông Đông, nếu giấy phép xuất khẩu giống như “hộ chiếu”, thì tiêu chuẩn ESG và dấu chân carbon chính là “thị thực” để hàng hóa được chấp nhận tại các thị trường khó tính. Điều này đòi hỏi toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp phải thay đổi theo hướng minh bạch, phát thải thấp và có khả năng kiểm chứng.
Các chuyên gia nhận định Việt Nam đã có nền tảng chính sách khá rõ cho quá trình chuyển đổi xanh. Nghị quyết 19-NQ/TW, Chiến lược tăng trưởng xanh, Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững hay Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang tạo khung định hướng cho quá trình tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng sinh thái và tuần hoàn.
Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất hiện nay là nguồn lực còn phân tán. Nhà nước có chính sách nhưng ngân sách hạn chế; doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư nhưng vướng thủ tục, hạ tầng và rủi ro thị trường; nông dân thiếu vốn và công nghệ; trong khi ngân hàng lại thiếu bộ tiêu chí đánh giá dự án xanh phù hợp với đặc thù nông nghiệp.
Trong bối cảnh đó, mô hình hợp tác công - tư được xem là giải pháp trung tâm để kết nối nguồn lực và chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho rằng PPP trong nông nghiệp không nên chỉ giới hạn ở các dự án hạ tầng đơn lẻ mà cần được mở rộng thành mô hình liên kết chuỗi giá trị. Theo đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và đầu tư hạ tầng; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và công nghệ; ngân hàng cung cấp tài chính; nhà khoa học chuyển giao kỹ thuật; còn nông dân và hợp tác xã là chủ thể sản xuất.
Một số mô hình thực tiễn được giới thiệu tại hội thảo cho thấy tiềm năng lớn của nông nghiệp phát thải thấp. Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam đề xuất mô hình “nông nghiệp xanh - phát thải thấp theo chuỗi giá trị quy mô vùng”, trong đó ứng dụng đồng bộ các công nghệ giảm phát thải trên diện rộng.
Nổi bật là công nghệ san phẳng mặt ruộng bằng định vị chính xác giúp tiết kiệm tới 50% lượng nước tưới; hệ thống drone gắn camera AI giúp phát hiện sâu bệnh chính xác, qua đó giảm 90-99% lượng thuốc bảo vệ thực vật; hay công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành than sinh học Biochar để tạo tín chỉ carbon giá trị cao.
Theo ông Đặng Huy Đông, nếu áp dụng đồng bộ các công nghệ xanh trong toàn chuỗi giá trị, nông sản Việt Nam có thể giảm tới khoảng 50% phát thải carbon, đồng thời nâng giá trị xuất khẩu nhờ đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.
Bên cạnh trồng trọt, chuyển đổi xanh trong chăn nuôi và thủy sản cũng được đánh giá còn nhiều dư địa. Các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu phát triển mô hình chăn nuôi tuần hoàn, xử lý chất thải thành năng lượng và phân hữu cơ, giảm sử dụng kháng sinh, đồng thời nâng cao an toàn sinh học.
Trong lĩnh vực thủy sản, các giải pháp như nuôi tuần hoàn nước, nuôi biển công nghệ cao, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát môi trường vùng nuôi được xem là chìa khóa để duy trì năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Một nội dung được nhấn mạnh tại hội thảo là vai trò của tài chính xanh và dữ liệu số. Các đại biểu cho rằng nếu không có dữ liệu phát thải minh bạch, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất đồng bộ, doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận tín dụng xanh cũng như tham gia thị trường carbon trong tương lai.
Do đó, nhiều kiến nghị được đưa ra như xây dựng bộ tiêu chí đánh giá dự án nông nghiệp xanh; phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị; thí điểm quỹ bảo lãnh, bảo hiểm nông nghiệp và cơ chế chia sẻ rủi ro trong các dự án PPP.
Các đại biểu cũng đề xuất ưu tiên những mô hình có khả năng nhân rộng như vùng lúa phát thải thấp, vùng cây ăn quả đạt chuẩn xuất khẩu, trang trại chăn nuôi tuần hoàn hay vùng nuôi thủy sản xanh gắn với chế biến sâu.
Theo các chuyên gia, chuyển đổi xanh sẽ không thể thành công nếu chỉ dựa vào nỗ lực riêng lẻ của doanh nghiệp hay người nông dân. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tài chính, giới khoa học và các hiệp hội ngành hàng để hình thành hệ sinh thái sản xuất xanh quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Diệu Phương